tần suất thái bình
Số lần một sự kiện xảy ra được gọi là tần suất. Tần số tương đối là tần số thực nghiệm, nhưng không phải là tần số lý thuyết. Vì nó là một thí nghiệm nên có thể thu được các tần số tương đối khác nhau khi chúng ta lặp lại các thí nghiệm. Để tính toán tần số chúng ta cần
XÁC SUẤT 5. Định nghĩa xác xuất theo phương pháp thống kê Định nghĩa: • Nếu lặp lại n lần một phép thử ta thấy biến cố A xuất hiện k lần. Ta gọi tỉ số k/n là xác xuất của biến cố A. • Bằng thực nghiệm ta thấy rằng nếu n thay đổi thì tần xuất k/n cũng thay
Biến tần mới công suất lớn giúp bạn dễ sử dụng điều chỉnh tốc độ giúp dễ dàng vận hành và đảm bảo an toàn tuyệt đối; Thái Bình. CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ BẾP VIỆT QUANG HUY. Đăng ký kinh doanh số: 0108361918 Do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội Cấp ngày
Dãi áp suất: 0 -16 bar Tín hiệu ra: 4 - 20mA Nguồn cấp: 7…33 VDC Chuẩn kết nối điện: DIN EN 175301-803-A Chuẩn kết nối áp: ren ngoài 1/4-18 NPTỨng dụng đo áp suất : nước, dầu, khí, hơi nước… Công Ty TNHH Tự Động Hóa Thiên Phú Thịnh (TPT) Biến tần - HMI - PLC - Thiết bị đóng cắt - SCADA - BMS - Tủ điện
*Phó từ chỉ tần suất trung bình (Adverbs indicating medium frequency) : Đôi khi tôi suy nghĩ như một triết gia và một nhà thông thái, đôi khi tôi cư xử như một kẻ mất trí ngu ngốc, đôi khi tôi đam mê, đôi khi tôi lạnh lùng. 通常 tōngcháng - generally, ordinarily, as a rule - như
Nhiệt điện Thái Bình: Vận hành hiệu quả nhờ quy trình công nghệ đảm bảo môi trường. Với 02 tổ máy gồm 02 lò hơi sử dụng công nghệ lò phun than (PC) và 02 tuabin hơi, tổng công suất của Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình đạt 600MW, đem lại sản lượng điện sản xuất hàng
Tra Cứu Khoản Vay Atm Online. Thống kê lần quay, xem đến ngày
Bảo trì hệ thống phòng cháy hay các hệ thống cần làm rõ những hạng mục cần làm để duy trì hoạt động của thiết bị và hệ thống tốt nhất những chi phí vẫn được tối ưu. Chúng tôi với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo trì thường xuyên cập nhật quy trình theo các quy định pháp luật để đảm bảo tối ưu phương án cho khách hàng. Căn cứ theo nghị định 79 của Chính Phủ. Thông tư 04, 11 của Bộ Công An quy định về việc kiểm tra định kỳ của các cơ sở. Căn cứ tiêu chuẩn Việt Nam 3890 – 2009 / Kiểm tra, bảo trì bảo dưỡng hệ thống Căn cứ vào tính chất, công năng sử dụng của công trình. Thông tư, nghị định liên quan Tần suất kiểm tra là bao lâu? Vận hành chạy thử hệ thống 1 lần / tháng. Kiểm tra định kỳ tất cả các thiết bị hệ thống PCCC 1 lần / 6 tháng và tổ chức thực hành các phương án phòng cháy và chữa cháy cơ sở theo phương án của Sở PCCC 2 lần/ năm. Kiểm tra định kỳ Hệ thống báo cháy tự động; Kiểm tra trung tâm báo cháy có báo lỗi hay không, xác định xử lý để đưa hệ thống hoạt động bình thường. Kiểm tra tín hiệu âm thanh ánh sáng, báo động. Kiểm tra các tín hiệu kết nối, điều khiển các hệ thống khác nếu có. Thử bất kỳ một vài thiết bị để có kết quả hệ thống. Hệ thống chữa cháy Kiểm tra áp suất duy trì, sự ổn định của hệ thống với hệ thống duy trì áp. Kiểm tra, thử nghiệm đóng mở các van, tủ điều khiển, động cơ, dầu nhớt, lăng, vòi… Kiểm tra các tín hiệu kiểm soát, báo động của hệ thống nếu có. Thử áp xuất ở điểm cao nhất, xa nhất đảm bảo cột áp đầu lăng 6m . Hệ thống chữa cháy di động, biển báo Kiểm tra các bình chữa cháy xách tay, cố định đảm bảo áp suất, trọng lượng. Kiểm tra các biển báo hiệu, nội quy, khu vực đặt bình, hộp chữa cháy không bi che khuất và xâm phạm. Dụng cụ cứu nạn, cứu hộ Kiểm tra tình trạng các thiết bị cứu nạn Quần áo, chăn, thang dây, dây thừng, mặt nạ chống cháy. Kiểm tra tình trạng của các thiết bị cứu hộ Rìu, kìm, cát, nước, các dụng cụ phá dỡ khác. Kiểm tra thông gió hút khói, tăng áp, thang máy, cửa từ … đảm bảo hoạt động đúng với yêu cầu kỹ thuật. Hệ thống đèn Exit, đèn sự cố Kiểm tra độ sáng của đèn, tình trạng của đèn khi bình thường và khi có sự cố. Hệ thống chống sét Kiểm tra các vị trí mối hàn, các mối nối trên hệ thống dây thoát sét. Kiểm tra, đo lại điện trở nối đất <10 Phải là đơn vị có chức năng đo . Hệ thống PCCC phải đảm bảo luôn được hoạt động một cách tốt nhất, vậy nên nếu hệ thống PCCC của đơn vị có bất cứ lỗi nào, hoặc sự cố không khắc phục được. Hãy liên hệ với chúng tôi để được Tư Vấn Miễn Phí, chúng tôi sẽ cử nhân viên có năng lực tới Kiểm Tra Miễn Phí và thông báo cho đơn vị những nguy cơ, tác hại có thể xảy ra cho đơn vị khắc phục. CÔNG TY TNHH E&C THÁI BÌNH DƯƠNG Bảo Trì NGUYỄN TUẤN ANH 0962683555 Công ty TNHH E&C Thái Bình Dương VPĐD Số 4 ngõ 170 Hoàng Ngân, P. Trung Hòa, Q. Cầu Giấy, Tp. Hà Nội Tel 02246253 8882 Hà Nội Email CÔNG TY TNHH E&C THÁI BÌNH DƯƠNG Chuyên Lĩnh vực Phòng cháy – Chữa cháy. Với năng lực và cũng là thế mạnh Thiết kế – Thẩm duyệt – Thi công các hạng mục của hệ thống Phòng cháy chữa cháy. Đội ngũ Thiết kế giàu kinh nghiệm, chuyên sâu về chuyên môn, am hiểu và luôn cập nhật thông tin trong luật PCCC. Đội ngũ Kỹ thuật và thi công vững chắc về các tiêu chuẩn trong nghành, có nhiều kinh nghiệm trong môi trường thi công công nghiệp, môi trường thi công các doanh nghiệp nước ngoài. Đội ngũ Bảo hành, bảo trì am hiểu kỹ thuật các thiết bị trong nghành PCCC, nhanh nhẹn xử lý các tình huống sự cố. MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY E&C THAI BINH DUONG, xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị hỗ trợ kỹ thuật chuyên nghiệp, tiêu chuẩn, có mối quan hệ chặt chẽ với các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực Phòng cháy chữa cháy. Coi Khách hàng là Bạn hàng giúp công ty mở rộng thị trường, là Đối tác để cùng nhau phát triển. Chúng tôi luôn tìm kiếm các đối tác hoạt động trong lĩnh vực Phòng cháy chữa cháy PCCC , Xây dựng,… để cùng nhau góp sức, phát huy thế mạnh, phát triển hướng đi mới nhằm mang lại lợi ích cho của hai bên, mang đến cho xã hội, khách hàng niềm tin, dịch vụ hiệu quả. Trong đó thế mạnh của Châu Thanh là hệ thống Phòng cháy chữa cháy. Đem đến cho khách hàng, đối tác niềm tin là sự an toàn. Chúng tôi sẵn sàng gặp gỡ trao đổi để cùng nhau xây dựng mối quan hệ hợp tác, phát triển các dự án công nghiệp. CÁC DỰ ÁN ĐÃ TRIỂN KHAI CUNG CẤP THIẾT BỊ – THI CÔNG HỆ THỐNG PCCC Nhà máy sản xuất phụ kiện xe máy Zongshen – Địa chỉ KCN Quang Minh – HN. Nhà máy Traphaco – Địa chỉ KCN Văn Lâm – Hưng Yên. Nhà máy Enshu – Nhật Bản – KCN Vsip – Bắc Ninh Nhà máy Năng Lượng – KCN Quang Minh – Hà Nội. Nhà máy sản xuất vắc xin Kiotobiken – KCN Thăng Long 2 – Hưng Yên Nhà máy sản xuất túi rác tự hủy CEDO – KCN Đại Đồng – Bắc Ninh Nhà máy may TXT – Nho Quan – Ninh Bình Nhà máy sản xuất thuốc Chi nhánh công ty TNHH IHI INFRASTRUCTURE ASIA – Địa chỉ KCN Đình Vũ, Và rất nhiều những dự án khác vừa và nhỏ cả về cung cấp thiết bị cũng như trực tiếp thi công…. ĐỐI TÁC/ THƯƠNG HIỆU Hochiki – Japan Pentax – Italy Horing – Taiwan Hòa Phát – VN ………………………….. CÁC NHÀ CUNG CẤP THIẾT BỊ UY TÍN-CHẤT LƯỢNG BÁO CHÁY CHỮA CHÁY CHỐNG SÉT – Hãng Hochiki – Nhật Bản – Hãng Viking – Mỹ – Hãng Litva – Thổ Nhĩ Kỳ – Hãng Hochiki – Mỹ – Hãng Victaulic – Mỹ – Hãng Inoflash – Pháp – Hãng Siemen – Thụy Sỹ– Hãng GE – Mỹ– Hãng Chungmei – Đài Loan– Hãng Notifier – Mỹ – Hãng Tyco – Anh…– Hãng Combat – Singapo– Hãng Kidde – Anh– Hãng Shila – Hàn Quốc Hãng Kidde – Anh – Các loại bình chữa cháy, thiết bị chữa cháy chuyên dụng. Mọi thông tin, ý kiến phản hồi để được hỗ trợ xin gửi về địa chỉ QUY TRÌNH NẠP BÌNH CHỮA CHÁY Vệ sinh, sơn bình nếu cần bình Kiểm tra trực quan cân kiểm tra và kiểm tra áp lực Dựa theo tiêu chuẩn bình để nạp bổ xung đối với các bình chữa cháy đã không còn đạt. NẠP BÌNH CHỮA CHÁY Xả sạch bột, khí đọng trong bình. Kiểm tra van, vòi, cò xả. Vệ sinh, sơn bình. Sấy, hong khô bình trước khi nạp. Nạp bột và khí vào bình. Theo dõi, kiểm tra áp suất, trọng lượng bình đã nạp. Hoàn thiện dán tem bảo dưỡng. CÁCH SỬ DỤNG BÌNH CHỮA CHÁY Đối với loại xách tay Chuyển bình tới gẩn địa điểm cháy. Lắc xóc vài lần nếu là bình bột loại khí đẩy chung với bột MFZ. Giật chốt hãm kẹp chì. Đứng đầu hướng gió hướng loa phun vào gốc lửa. Giữ bình ở khoảng cách 4 – 1,5 m tuỳ loại bình. Bóp van để bột chữa cháy phun Khi khí yếu thì tiến lại gần và đa loa phun qua lại để dập tắt hoàn toàn đám cháy. 2. Đối với bình xe đẩy Đẩy xe đến chỗ có hỏa hoạn, kéo vòi rulo dẫn bột ra, hướng lăng phun bột vào gốc lửa. Giật chốt an toàn kẹp chì, kéo van chính trên miệng bình vuông góc với mặt đất. Cầm chặt lăng phun chọn thuận chiều gió và bóp cò, bột sẽ được phun 3. Đối với bình chữa cháy khí CO2 Không nên sử dụng bình để dập các đám cháy ngoài trời. Nếu dùng, khi phun phải chọn đầu hướng gió. Đề phòng bỏng lạnh. Chỉ được cầm vào phần nhựa, cao su trên vòi và loa Trước khi phun ở phòng kin, phải báo cho mọi người ra hết khỏi phòng, phải dự trù lối thoát ra sau khi phun./. 4. Chú ý Đọc hướng dẫn, nắm kỹ tính năng tác dụng của từng loại bình để bố trí dập các đám cháy cho phù hợp. Khi phun phải đứng ở đầu hướng gió cháy ngoài; đứng gần cửa ra vào cháy trong. Khi phun phải tắt hẳn mới ngừng Khi dập các đám cháy chất lỏng phải phun bao phủ lên bề mặt cháy, tránh phun xục trực tiếp xuống chất lỏng đề phòng chúng bắn ra ngoài, cháy to hơn. Khi phun tuỳ thuộc vào từng đám cháy và lượng khí đẩy còn lại trong bình mà chọn vị trí, khoảng cách đứng phun cho phù hợp. Bình chữa cháy đã qua sử dụng cần để riêng tránh nhầm lẫn. Khi phun giữ bình ở tư thế thẳng đứng./. HƯỚNG DẪN KIỂM TRA, VỆ SINH BÌNH CHỮA CHÁY Kiểm tra bình Bình bột chữa cháy Loại bình có đồng hồ áp. Kiểm tra trực quan cân bình, kiểm tra van, vòi, cò bóp, đồng hồ áp và sơn bình. Nếu van, cò bóp, vòi nứt, méo hỏng thì thay thế. Bình và cò bóp nếu han thì sơn lại, kẹt thì dùng dung dịch tẩy rửa làm sạch và bôi trơn. Kiểm tra chuyên sâu Dù đồng hồ áp vẫn đảm bảo ≥ 80% lượng áp, cân nặng vẫn đảm bảo nhưng vẫn phải sóc bình kiểm tra bột bên trong bình. Nếu bột còn tơi xốp thì nghe tiếng bột rơi sẽ nhẹ nhàng » Nếu bột trong bình rơi lộp cộp như vo viên thì bột trong bình đã hỏng » cần nạp lại. Bình khí chữa cháy Loại bình không có đồng hồ áp. Kiểm tra trực quan cân bình, kiểm tra van, vòi, cò bóp và sơn bình. Nếu van, cò bóp, vòi nứt, méo hỏng thì thay thế. Bình và cò bóp nếu han thì sơn lại, kẹt thì dùng dung dịch tẩy rửa làm sạch và bôi trơn. Xuất trả bình Trước khi xuất trả bình kiểm tra cân bình, đồng hồ áp, bột trong bình tơi hay vón. Kiểm tra tem bình . Tiêu chuẩn bình bột chữa cháy. Áp lực khí đạt 80% vạch màu xanh đến dưới 50% vạch màu vàng trên đồng hồ áp. Vạch màu đỏ RECHARGE yêu cầu nạp lại Vạch màu xanh trong ngưỡng có thể dùng được Vạch màu vàng OVER CHARGED Thừa áp lực khí, sử dụng tốt nhưng cẩn thận khi bảo quản tại nơi có nhiệt độ cao . Bột trong bình tơi xốp. bằng cách lắc bình Xem thêm bảo trì hệ thống báo cháy tại hà nội, bảo trì hệ thống báo cháy tại hải dương, bảo trì hệ thống báo cháy tại hưng yên, bảo trì hệ thống báo cháy tại quảng ninh, bảo trì hệ thống báo cháy tại bắc ninh, bảo trì hệ thống báo cháy tại bắc giang, bảo trì hệ thống báo cháy tại lào cai, bảo trì hệ thống báo cháy tại yên bái, bảo trì hệ thống báo cháy tại vĩnh phúc, bảo trì hệ thống báo cháy tại cao bằng, bảo trì hệ thống báo cháy tại thanh hóa, bảo trì hệ thống báo cháy tại nghệ an, bảo trì hệ thống báo cháy tại phú thọ, bảo trì hệ thống báo cháy tại thái nguyên, bảo trì hệ thống báo cháy tại tuyên quang, bảo trì hệ thống báo cháy tại hòa bình, bảo trì hệ thống báo cháy tại ninh bình, bảo trì hệ thống báo cháy tại nam định, bảo trì hệ thống báo cháy tại hà nam More Lắp đặt hệ thống PCCC Tại Bắc Ninh Dịch vụ bảo trì hệ thống phòng cháy chữa cháy Thi công pccc tại E&C Thái Bình Dương Đội thi công PCCC chuyên nghiệp Bảo trì hệ thống báo cháy – PCCC
TTO - Rất nhiều bài học cần được rút ra nghiêm túc sau đợt mưa tại Đà Nẵng. Tuy nhiên nhiều người trong cuộc cho rằng dù đã theo dõi kỹ thông tin thời tiết nhưng rất mơ hồ vì không thể hình dung được mức độ ngập lũ dựa vào thông số dự báo lượng mưa. TS Nguyễn Ngọc Huy - Ảnh Trẻ Online đã có cuộc trao đổi với TS NGUYỄN NGỌC HUY - chuyên gia về giảm thiểu rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu, người được cộng đồng biết đến với biệt danh "cánh chim báo bão", chủ trang Facebook gần nửa triệu lượt theo dõi "Huy Nguyễn".Ông nhận định như thế nào về đợt mưa lũ vừa qua tại TP Đà Nẵng?Khoảng thời gian mưa tại Đà Nẵng gây ra trận ngập lụt kinh hoàng là từ 15h đến 21h ngày 14-10 với lượng mưa duy trì liên tục trong 6 tiếng. Cá biệt, lượng mưa cao nhất ghi nhận ở trạm Suối Đá, Sơn Trà là 637mm trong 6 tiếng. Trung bình khoảng 100mm trong 1 ở trọ trên đường Mẹ Suốt, Đà Nẵng nháo nhào chạy lũ trong đêm 14-10 - Ảnh thái mưa 600mm/6 tiếng liên tục thì thuộc tần suất 500 năm mới xuất hiện 1 lần xác suất xảy ra khoảng 0,2% mỗi năm.Liệu đợt mưa "lịch sử" như vừa rồi có tiếp tục lặp lại khi mà diễn biến thời tiết ngày càng khó lường?Khi nghiên cứu xu hướng lượng mưa lịch sử gia tăng hay không thì người ta dựa vào hai yếu tố. Đó là xu hướng lặp lại của các trận mưa cực đoan trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây để so sánh với quá khứ. Qua theo dõi chúng ta thấy số lượng này xuất hiện thường xuyên hơn, và lượng mưa cũng lớn hơn so với trước. Như vậy cả về tần suất lẫn mức độ đều có sự gia người dân ở tổ 29, Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu Đà Nẵng khá bình tĩnh khi nước lên chưa lớn, nhưng chỉ vài tiếng sau nước đã lút nóc nhà - Ảnh sao để hạn chế các rủi ro trước các đợt thiên tai? Chúng ta chỉ có thể hạn chế các rủi ro bằng cách tăng không gian cho nước bằng hồ chứa, hạn chế phát triển đô thị kiểu be bờ xung quanh bờ biển, hạn chế lấn sông và hãy dành không gian mặt thoáng cho nước tự chảy. Bằng cách đó sẽ giảm áp lực cho các hạ tầng thoát nước cho đô nông thôn, chúng ta hạn chế bê tông hóa mảnh vườn hoặc mảng sân nhà mình. Các trường học, các công sở không nên bít kín bằng bê tông, vừa nóng vừa không thấm khác người dân cần sẵn tâm thế để sơ tán đồ đạc, nắm bắt kỹ thông tin dự báo thay vì cố gắng để bơm nước ra ngoài hoặc tìm giải pháp chống như người dân Đà Nẵng đã bàng hoàng vì không nghĩ mưa gây ngập kinh khủng như thế. Dù họ có đầy đủ thông tin nhưng dường như mọi thứ chỉ rất chung chung, số liệu không cụ thể hóa để dân hình dung ra được?Đúng! Cái quan trọng nhất đó là phải cảnh báo thiên tai tới từng người dân để làm sao mỗi người dân tự nhận ra được rủi ro sẽ xảy đến. Người dân Đà Nẵng được sửa xe ngập lũ miễn phí từ các thợ tình nguyện quê Quảng Nam - Ảnh dụ người dân trước khi mưa sẽ nhận được thông tin là lượng mưa 500 - 600mm/ngày đến với Đà Nẵng thì cái quan trọng nhất là cộng đồng phải được giải thích cặn kẽ với lượng mưa đó thì sẽ "to" cỡ nào để sơ tán đồ đạc, họ sẽ ở đâu để an toàn. Về khoa học cảnh báo, dự báo trong tương lai thì chúng ta phải nhanh chóng xác định được mức lũ, trong chuyên môn gọi là "vết lũ". Vết lũ lịch sử sẽ là một cơ sở để đưa ra các phân tích lượng mưa trong tương lai đạt ở mức bao nhiêu, vết lũ đó sẽ được xây dựng từ cộng đồng địa phương. Quá trình đó họ sẽ ghi nhận trong trí nhớ, suy nghĩ rằng với cảnh báo lượng mưa bao nhiêu thì nhà của họ sẽ bị ngập bao nhiêu. Điều này sẽ thay đổi quan điểm ứng phó và giúp chủ động, hạn chế tối đa thiệt hại như vừa qua tại Đà Nẵng. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
Mô hình lúa gieo thẳng ở xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, Thái Bình. Ảnh TTXVN Thái Bình là tỉnh nông nghiệp có hơn 83 nghìn ha đất canh tác lúa, năng suất nhiều năm nay đã chạm trần đạt trên 13 tấn/ha, sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn lương thực/năm. Trong điều kiện năng suất lúa đã chạm trần như vậy, Thái Bình xác định cần phải tập trung phát triển vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao mang thương hiệu sản phẩm lúa gạo Thái Bình để nâng cao hiệu quả kinh tế và thu nhập cho dân. Những năm gần đây, diện tích lúa chất lượng cao ở Thái Bình tăng dần qua các năm, từ - ha mỗi vụ. Đặc biệt vụ xuân năm 2011 đạt cao nhất ha chiếm trên 30% diện tích gieo cấy, vụ mùa đạt ha, điều này chứng tỏ người dân Thái Bình ngày càng quan tâm hơn tới lúa chất lượng cao. Hiện nay, các giống lúa chất lượng cao được trồng ở tất cả các địa phương trong tỉnh, nhưng tập trung chủ yếu ở các huyện Tiền Hải, Thái Thụy, Kiến Xương, Vũ Thư. Phần lớn nông dân hiện nay đang trồng các giống Bắc thơm 7, Hương Thơm 1, T10, N87, N97, lúa Nhật, TBR45, RVT, QR1... Trong đó, các giống lúa Nhật, giống Bắc thơm số 7, RVT là các giống có thị trường tiệu thụ tốt; TBR45, RVT, QR1 là các giống lúa chất lượng mới được đưa vào cơ cấu của tỉnh, song với ưu thế vượt trội về chất lượng thóc gạo và chống chịu sâu bệnh, năng suất khá cao từ 60 - 70 tạ/ha, chất lượng gạo thơm nên các giống này đang được nông dân mở rộng sản xuất do có thị trường tiêu thụ tốt. Trong mùa vụ tới, tỉnh Thái Bình sẽ mở rộng diện tích sản xuất giống lúa chất lượng cao từ vụ mùa 2012 tăng lên Tuy nhiên, hiện nay sản xuất lúa chất lượng cao ở Thái Bình cũng đang gặp một số khó khăn, thách thức. Công tác quy hoạch vùng sản xuất lúa tập trung của Thái Bình vẫn còn manh mún, cho nên vừa khó thực hiện đồng bộ cơ giới hóa và phòng trừ dịch bệnh cây trồng, vừa giảm hiệu quả khi áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật. Hạ tầng sản xuất như hệ thống tưới tiêu còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất; hệ thống bảo quản, chế biến, sấy sau thu hoạch gần như chưa có, giao thông nội đồng chưa hoàn thiện, tỷ trọng cơ giới hóa các khâu sản xuất chưa cao... Hiện nay do chưa có thương hiệu nên sản phẩm lúa gạo Thái Bình tiêu thụ trên thị trường chưa vươn xa được. Theo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh, việc Thái Bình đến nay vẫn chưa có thương hiệu cho sản phẩm gạo là vì chưa chọn được đúng sản phẩm để xây dựng thương hiệu, không thể có thương hiệu chung cho mọi loại gạo, mà sản phẩm ấy phải có gì nổi trội so với sản phẩm cùng loại của địa phương khác. Do chưa chọn đúng sản phẩm nên việc quy vùng sản xuất tập trung xác định xuất xứ cho sản phẩm cũng chưa cụ thể... Với người sản xuất ra sản phẩm, kiểu sản xuất nhỏ phân tán, mang nặng ý thức tiểu nông chạy theo lợi ích trước mắt, ... Tâm lý này, cách nghĩ này cần phải thay đổi trong cơ chế thị trường, khi bắt tay vào sản xuất hàng hóa lúa chất lượng. Đây chính là một số nguyên nhân cơ bản làm cho Thái Bình chưa có thương hiệu gạo. Do vậy, tỉnh đang khẩn trương xây dựng vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, tiến tới hình thành thương hiệu lúa gạo của Thái Bình nhằm phát huy thế mạnh về sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới và để cây lúa đem lại thu nhập xứng đáng cho người nông dân. Mục tiêu của tỉnh phấn đấu diện tích lúa chất lượng cao đạt - ha/vụ vào năm 2013 và đến năm 2015 diện tích là - ha/vụ với sản lượng đạt khoảng tấn. Để thực hiện được điều trên, vấn đề trước tiên là tỉnh lựa chọn giống lúa làm sản phẩm hàng hóa và xây dựng thương hiệu gạo. Hiện nay, tỉnh Thái Bình đã có bộ giống lúa chất lượng bao gồm các giống như QR1, Hương thơm 1, BT7, T10... ; nhưng xét về ưu thế nổi trội so với các giống trên địa bàn và so với các địa phương khác, Thái Bình sẽ tập trung xây dựng vùng sản xuất lúa chất lượng cao trên 3 giống có thị trường dễ tiêu thụ là Bắc thơm số 7, lúa thơm RVT và giống lúa Nhật ĐS1 gọi chung là lúa thơm Thái Bình để làm sản phẩm hàng hóa, bởi đây là các giống có nhiều ưu điểm nổi trội so với các giống khác, cơm ngon vị đậm, mùi thơm, được nhân dân Thái Bình và nhiều địa phương khác ưa chuộng. Song cần phải chọn lọc lại để đảm bảo độ thuần của giống. Cùng với đó, công tác quy hoạch vùng sản xuất cũng được tỉnh phân định rõ vùng sản xuất lúa chất lượng cao làm sản phẩm hàng hóa gắn với xây dựng thương hiệu để vươn ra tiêu thụ ở tỉnh ngoài và xuất khẩu. Các vùng quy hoạch cấy lúa chất lượng phải bảo đảm các điều kiện về đất đai, giao thông thuận lợi, chủ động tưới tiêu, tập trung thành vùng hàng hóa tiện cho cơ giới. Khuyến khích nông dân dồn điển đổi thửa, phấn đấu mỗi hộ chỉ nên có 1 thửa ruộng để canh tác, tạo điều kiện hình thành các trang trại quy mô lớn sản xuất hàng hóa lúa chất lượng. Tỉnh cũng sẽ xây dựng quy trình sản xuất lúa hàng hóa theo tiêu chuẩn VietGap, thực hiện nghiêm ngặt chế độ bón phân và phòng trừ sâu bệnh; tăng cường công tác quảng bá giới thiệu sản phẩm lúa chất lượng trên các phương tiện thông tin đại chúng để định hướng nhu cầu tiêu dùng của người dân; lựa chọn doanh nghiệp có đủ năng lực và tâm huyết để tổ chức thu mua, tiếp thị sản phẩm lúa chất lượng hàng hóa. Tỉnh tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nông dân mua máy móc, công cụ phục vụ sản xuất để tăng năng suất lao động, góp phần hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí đầu vào cho nông dân, tăng sức cạnh tranh của hàng nông sản. Đẩy mạnh công tác tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật thâm canh giống lúa chất lượng, kỹ thuật sử dụng các loại phân bón mới, ứng dụng các giải pháp kỹ thuật mới, như gieo vãi, gieo thẳng... nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân đối với sản phẩm làm ra, từng bước tạo lập giá trị sản phẩm gạo Thái Bình. Ngoài ra, tỉnh cũng sẽ đầu tư phát triển vùng sản xuất lúa giống ở các huyện với diện tích 10ha, sản lượng đạt tấn để cung cấp lúa giống chất lượng cao cho cả nước; đồng thời xây dựng khu thực nghiệm và chuyển giao công nghệ sinh học với diện tích 5ha chuyên nuôi cấy mô tế bào công nghệ cao, công nghệ vi sinh, kho bảo quản... từng bước đưa Thái Bình trở thành trung tâm sản xuất lúa giống của cả nước./.
Sau nửa thế kỷ phát triển mạnh mẽ, tuabin khí đã đạt tới đỉnh cao hoàn thiện hiệu suất của thiết bị tuabin khí TTK chu trình đơn đã tăng trên hai lần và đạt tới gần 40%, còn công suất đơn vị tổ máy lên tới 300 MW. Đó là nhờ nâng cao hiệu suất của cả các bộ phận hợp thành máy nén, buồng đốt, tuabin cũng như nhờ tăng nhiệt độ khí trước tuabin TG. Tuabin khí chu trình hỗn hợp Nhờ sử dụng các vật liệu bền nhiệt hiện đại, hệ thống làm mát các bộ phận nóng nhất, kể cả các vỏ bọc rào nhiệt, nhiệt độ khí đã tăng thêm được khoảng 800 K và đạt trị số K. Công suất đơn vị của tuabin khí với hệ số nén pc = 18 ÷ 21 và lưu lượng không khí đầu vào máy nén 730 ÷ 740 kg/s, là khoảng 340 MW, khi đó hiệu suất của tuabin khí bằng 38 ÷ 39%. Hiệu suất của thiết bị tuabin khí chu trình hỗn hợp* TBKHH đạt gần 60% và công suất của hệ thống thiết bị, tùy theo cấu hình, đã đạt tới 980 với những tuabin khí có tiềm năng lớn, nếu tăng nhiệt độ lên cao hơn sẽ dẫn tới tăng tiêu hao năng lượng cho hệ thống làm mát, điều đó dẫn đến làm giảm hiệu quả tương đối từ sự tăng nhiệt độ. Hình 1 trình bày động thái thay đổi hiệu suất và công suất riêng của TTK trong giai đoạn 1991 – 2001, ví dụ như TTK của hãng General Electric Mỹ mẫu 701 PG 7191F, PG 7221FA, PG 7231FA, PG 7224FA, PG 7251FB. Trong tương lai ít có hi vọng có thể cải thiện đáng kể các đặc tính lưu lượng của máy nén, còn việc tăng nhiệt độ khí trước tuabin khí không phải là vô hạn. Ít có khả năng nâng cao đáng kể hiệu suất và công suất đơn vị của TTK theo chu trình đơn Brighton, trong khi đó, nếu sử dụng các chu trình nhiệt động mở rộng của Zotikov hoặc V. V. Uvarov, vấn đề đó có thể giải quyết một cách thắng lợi. Xu thế phức tạp hóa chu trình của TTK đã được thể hiện trong các công trình nghiên cứu triển khai của nhiều hãng có uy tín ở phương Tây. Trong dự án được nhiều người biết đến về hệ thống thiết bị kết hợp TTK – 200 – 750 dựa trên chu trình V. V. Uvarov công trình phối hợp của các chuyên gia Nhà máy chế tạo tuabin – máy phát điện Kharkov và Trường đại học Kỹ thuật công nghiệp Matxcơva, với nhiệt độ khí trước tuabin K, tổng mức tăng áp suất trong máy nén pc = 128 và với khả năng truyền không khí qua máy nén 453 kg/s thì công suất tính toán và hiệu suất tương ứng là 200 MW và 39,5%. Khi qui đổi về nhiệt độ khí trước tuabin K và giữ nguyên như trước các thông số khác thì công suất và hiệu suất thiết bị là 400 MW và 49,7%. Nếu tăng lưu lượng không khí tới 737 kg/s, công suất TTK đạt tới 647 MW. Để so sánh Một trong những TTK hoàn thiện nhất của hãng Mitsubishi MPCP1-701G2 với nhiệt độ khí trước tuabin bằng K, lưu lượng không khí qua máy nén là 737 kg/s có hiệu suất 39,5% và công suất 334 MW, còn công suất của TBKHH được tổ hợp trên cơ sở TTK đó là 489 MW với hiệu suất 58,7%. Thí dụ về việc thực hiện TTK theo chu trình V. V. Uvarov với số lượng hợp thể ít hơn là việc chế tạo TTK GT-100-750 năm 1970 một lần làm mát trung gian và một quá trình cháy trung gian. Đó là thành tựu đáng kể của ngành chế tạo TTK ở Nga. Sau đó ở Nhật, khi nghiên cứu triển khai TTK kiểu AGTJ-100A theo chương trình “Ánh sáng trăng” thực tế đã tái tạo lại sơ đồ nhiệt động của GT-100-750. Khi đó, giải thích về giải pháp của họ, các chuyên gia Nhật đã nêu lý do là với việc giới hạn nhiệt độ khí trước tuabin thì con đường duy nhất để tăng công suất đơn vị và hiệu suất TTK là chuyển sang chu trình nhiệt động mở rộng. Thiết bị AGTJ – 100A đã được sử dụng để vận hành trong TBKHH chu trình nhị nguyên. Với nhiệt độ của sản phẩm cháy sau buồng đốt chính là K và của buồng đốt trung gian là K thì hiệu suất sẽ là 38%, còn công suất khi lưu lượng không khí ở đầu hút vào máy nén là 220 kg/s sẽ là 100 MW. Thí dụ về TTK chu kỳ nhiệt động mở rộng, mới xuất hiện trên thị trường là TTK GT-26 của hãng Alstom trong đó có một tầng nén, hai tầng dãn và buồng đốt trung gian nằm giữa hai tầng này. Với mức tăng áp còn gọi là tỷ số nén là 30 thì chu trình nhiệt động mở rộng nói trên đã cho phép đạt được công suất riêng 443 kWs/kg giống như ở TTK MPCP1 – 701G2 của hãng Mitsubishi. Trong trường hợp đó, nhiệt độ khí trước tuabin trong TTK GT-26 là K, khác với nhiệt độ K trong TTK của hãng Mitsubishi. Chu trình đa hợp thể V. V. Uvarov được đặc trưng bởi tổng mức tăng áp cao, kết quả là áp suất tuyệt đối của chất công tác ở cuối quá trình nén đạt trên 10 MPa. Áp suất cao như vậy gây khó khăn trong việc chế tạo TTK trong thực tế. Tuy nhiên điều đó có thể tránh được. Để giải thích ý tưởng này cần phải quay lại với chu trình Carnot. Nếu cắt chu trình Carnot với mức tăng áp suất p theo đường đẳng áp thành hai chu trình ghép với mức tăng áp ở mỗi chu trình p1 = p2 = trong đó áp suất ban đầu trong mỗi chu trình đó là áp suất khí quyển, áp suất tối đa trong mỗi chu trình cũng chỉ bằng lần khí quyển. Trong khi đó tổng hiệu suất và công suất riêng của chu trình cấu thành từ hai phần ghép của chu trình Carnot sẽ giữ nguyên như của chu trình ban đầu. Cách tiếp cận tương tự cũng có thể mở rộng sang chu trình V. V. Uvarov. Hình 2 trình bày biểu đồ T, s với các chu trình của TTK và các sơ đồ nguyên lý tương ứng của các thiết bị, kể cả thiết bị dựa trên chu trình đơn Brighton để so sánh. Để dễ hiểu, tất cả các thiết bị được biểu diễn theo sơ đồ một trục. Nhiệt độ khí trước tuabin là K. Khi phân tích các chu trình trên, điều cần quan tâm là sự phụ thuộc của hiệu suất phần truyền dẫn các bộ cánh tuabin của máy nén và tuabin vào mức tăng áp suất mức dãn tương ứng trong thiết bị, còn tổn thất nhiệt động của áp suất theo tuyến của TTK trong các ống của máy nén và tuabin, trong thiết bị trao đổi nhiệt, buồng đốt được đưa vào các máy nén và tuabin tương ứng và được tính bằng cách đưa vào các hiệu suất quy ước hQ Trong đó sI = 1 – D i; D i – tổng các tổn thất tương đối về áp suất trong các phần tử của TTK, chỉ số i ký hiệu hoặc cho máy nén K, hoặc tuabin T; hPK, hPT – hiệu suất politropic của tầng máy nén và của tầng tuabin; K – chỉ số của đường đoạn nhiệt. Phân tích các chu trình chỉ ra rằng đối với TTK chu trình hở nhiệt động mở rộng thì việc đưa mức tăng áp suất dưới 3 đối với các tầng nén và mức dãn dưới 4 đối với các tầng dãn nở chưa chắc có lợi, bởi vì khi đó, tổn thất ở các ống đầu vào và đầu ra, các buồng đốt trung gian và các thiết bị trao đổi nhiệt tương ứng với công tương đối nhỏ hơn của hệ thống cánh tuabin. Điều đó dẫn tới giảm các trị số hiệu suất quy ước của tuabin và máy nén, điều đó thể hiện rõ trên các hình 3 và 4. Giảm pK và pT của các bậc nén và dãn nở đòi hỏi phải tăng số bậc, do đó quá trình xích gần tới đẳng nhiệt, tuy nhiên hiệu quả có lợi đó lại bị cào bằng bởi sự sụt giảm các hiệu suất quy ước. Đối với các chu trình 1, 2 và 3 xem hình 2 đã chấp nhận nhiệt độ của khói thoát là như nhau = T14 = 840 K với giả định rằng sử dụng cùng một kiểu TTK những chu trình đó tựa như “đặt vào nhau”. Chu trình 1 là chu trình Brighton đơn giản, chu trình 2 tương tự như chu trình của TTK GT-100-750 chu trình V. V. Uvarov tối giản, chu trình 3 là chu trình V. V. Uvarov với hai bộ làm mát trung gian với ba bậc nén và với hai lần gia nhiệt trung gian ba bậc dãn. Các chu trình 4 1 và chu trình 4 2 là hai phần của chu trình 3 được cắt theo đường đẳng áp 7 – 13. Trong trường hợp đó, chúng có thể được xem như hai chu trình riêng biệt, liên hệ với nhau về nhiệt động qua đường đẳng áp trên đoạn 5 – 12, trên đó chu trình 4 1 mất hiệu entanpi h12 – h5, còn chu trình 4 2 nhận được hiệu entanpi đó. Việc cắt đôi chu trình 3 hoặc các chu trình tương tự như vậy, được gọi là chuẩn nhị nguyên, cho phép duy trì được cấu hình của chu trình ban đầu, giảm mạnh áp suất cực đại trong chu trình 4 1 so với chu trình 3 ban đầu. Về mặt hình thức có thể xác định hiệu suất và công suất riêng của các chu trình 4 1 và 4 2 riêng rẽ, có xét đến rằng trong chu trình 4 2 diễn ra sự tận dụng triệt để nhiệt năng toả ra từ chu trình 4 1 trên đoạn đẳng áp 5 – 12. Tiếp sau đó, có thể tìm hiệu suất tổng bình quân gia quyền của hai chu trình. Rõ ràng rằng trong trường hợp đó tổng công suất riêng và hiệu suất tổng hóa ra là bằng công suất riêng và hiệu suất của chu trình 3 ban đầu. Tuy nhiên để thực hiện trong thực tế TTK chuẩn nhị nguyên cần phải sử dụng hai TTK chu trình hở xem hình 2e, TTK thứ nhất vận hành theo chu trình 4 1 và TTK thứ hai theo chu trình 4 2. Trong trường hợp đó, để chuyển hiệu của các entanpi h12 – h5 cần phải sử dụng thiết bị trao đổi nhiệt – tương tự thiết bị hoàn nhiệt, chỉ với một khác biệt là nhiệt năng được tận dụng của khói thoát từ TTK chu trình 4 1 đi vào sấy không khí trước buồng đốt của TTK chu trình 4 2. Để tạo ra các điều kiện chuyển nhiệt năng cần phải đảm bảo áp lực nhiệt độ giữa môi trường gia nhiệt [trong chu trình 4 1] và môi trường được gia nhiệt [trong chu trình 4 2], trong đó đi kèm theo quá trình trao đổi nhiệt trong thiết bị tương ứng là các tổn thất áp lực trong cả hai chu trình. Hình 5 giới thiệu hai phương án khả dĩ thực hiện chu trình của TTK chuẩn nhị nguyên. Trong phương án thứ nhất hình 5a cấu hình của chu trình 4 1 được giữ nguyên không thay đổi, còn áp suất theo nhiệt độ cần thiết được thực hiện bằng cách giảm nhiệt độ sau máy nén K2 xuống còn T51, điều đó đòi hỏi giảm một cách phù hợp mức tăng áp suất trong máy nén đó. Bởi vì để duy trì nhiệt độ T14 không đổi thì mức dãn của tuabin T3 cũng phải duy trì không đổi, đối với mức tăng áp suất của máy nén thứ nhất đòi hỏi sự hiệu chỉnh tương ứng theo hướng tăng mức đó. Trong trường hợp đó, công suất riêng của chu trình 4 2 thực tế là không thay đổi, còn nhiệt lượng đưa vào buồng đốt sẽ tăng thêm một trị số tỷ lệ thuận với hiệu số T5 – T51 = T12 – T12*, nghĩa là tỷ lệ thuận với áp lực nhiệt độ đã chấp nhận. Kết luận 1. Cơ sở của các thiết bị nhị nguyên tổ hợp hiện đại là các TTK chu trình đơn Brighton. Trong các ứng dụng này, nhiệt độ khí trước tuabin đạt tới – K và lưu lượng không khí hút vào máy nén tăng lên tới 740 kg/s. Điều đó cho phép nâng hiệu suất TTK năng lượng đạt mức 39,5%, và công suất đơn vị tới 335 MW, công suất của thiết bị nhị nguyên trên cơ sở một TTK đạt 450 – 490 MW, với hiệu suất gần 60%. 2. Ngày nay những thông số của TTK chu trình đơn nhiệt độ khí trước tuabin và lưu lượng không khí qua máy nén đã tiến gần các trị số giới hạn đối với các TTK đặt cố định, tuổi thọ dài. Khó có thể tăng hơn nữa đáng kể các thông số đó. Ngoài ra, mỗi độ nâng thêm nhiệt độ khí trước tuabin dẫn tới giảm nhịp độ gia tăng hiệu suất và công suất riêng. Trong khi đó, tăng nhiệt độ khiến cho việc giải quyết các vấn đề sinh thái trở nên phức tạp hơn. 3. Ở mức hiện đại của nhiệt độ khí trước tuabin và lưu lượng không khí hút vào máy nén, việc chuyển sang các TTK chu trình mở rộng về nhiệt động học mở ra con đường cho việc tiếp tục tăng lên một cách cơ bản tính kinh tế và công suất của các TTK đặt cố định, và kể cả các thiết bị tổ hợp được tạo ra trên cơ sở các TTK. Việc chuyển sang các thiết bị đó sẽ tạo điều kiện nâng cao tính kinh tế của TTK tới 58% và công suất đơn vị tới MW. Tương ứng điều đó sẽ cho phép nâng hiệu suất của thiết bị nhị nguyên tổ hợp tới 70% với công suất gần MW. 4. TTK chu trình nhiệt động mở rộng có đặc điểm là trị số tổng mức tăng áp suất cao và tương ứng áp suất cực đại trong chu trình cũng cao. Việc chuyển sang TTK chuẩn nhị nguyên cho phép – giảm trị số áp suất cực đại trong chu trình 4 1 khoảng lần – loại trừ sự giảm tính kinh tế của các hệ thống cánh tuabin liên quan tới áp suất cao. – tránh được các vấn đề giảm độ bền và các ứng lực dọc trục đi kèm theo với áp suất cao của môi trường công tác. 5. Hiệu suất và công suất riêng của chu trình TTK chuẩn nhị nguyên tỏ ra thấp hơn không đáng kể so với các chỉ tiêu tương ứng của chu trình ban đầu. Sự giảm tương đối những chỉ tiêu đó phụ thuộc vào áp lực nhiệt độ đã được chấp nhận và tổn thất áp suất của chất mang nhiệt trong thiết bị trao đổi nhiệt giữa các chu trình. 6. Trong việc tạo ra thiết bị trao đổi nhiệt giữa các chu trình tương tự thiết bị hoàn nhiệt cần phải áp dụng những thành tựu kỹ thuật hiện đại nhất. Theo KHCN Điện số 5/2008
I. Xử lý bùn thải công nghiệp cho các quy mô khác nhauII. Phương pháp xử lý bùn thải cho các hệ thống sản xuất1. Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp vật lý đơn giản2. Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp hóa học 3. Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp kết tủa4. Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp oxi hóa khử5. Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp chôn lấp nhanhXử lý bùn thải công nghiệp là điều được quy định rõ ràng tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thực hiện vệ sinh định kỳ nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất cũng như bảo vệ môi trường và sức khỏe của con người. Để lựa chọn phương pháp tối ưu cho từng loại chất thải và thời gian xử lý định kì, hãy tham khảo qua bài viết dưới đây để có câu trả Xử lý bùn thải công nghiệp cho các quy mô khác nhauTần suất xử lý bùn thải cho mô hình doanh nghiệp nhỏĐối với các mô hình doanh nghiệp nhỏ thì nên xử lý bùn thải công nghiệp cho bể chứa ít nhất 1 năm 1 lần. Tùy theo mức độ sản xuất nhưng với mô hình này thì doanh nghiệp nên xử lý bùn thải ít nhất 1 lần trong năm để đảm bảo vệ sinh môi suất xử lý bùn thải cho mô hình doanh nghiệp vừaĐối với những công ty hoặc doanh nghiệp có quy mô trung bình thì nên xử lý hút bùn thải cho bể chứa ít nhất nửa năm 1 lần 6 tháng 1 lần.Tần suất xử cho mô hình doanh nghiệp lớnĐối với mô hình doanh nghiệp lớn thì xử lý hút bùn thải cho bể chứa ít nhất 1 tháng 1 lần để đảm bảo sản xuất hiệu quả, an toàn và bảo vệ môi trường theo quy cạnh những lợi ích đó, thực hiện xử lý bùn thải thường xuyên cũng có thể giúp bạn phát hiện được những lỗ hổng trong quy trình sản xuất và can thiệp kịp thêm Có bao nhiêu biện pháp xử lý bùn thải công nghiệp hiện nay?II. Phương pháp xử lý bùn thải cho các hệ thống sản xuấtKhông phải phương pháp xử lý bùn thải công nghiệp của doanh nghiệp nào cũng giống nhau. Dựa vào mô hình, ngành nghề sản xuất mà mỗi công ty sẽ chọn phương pháp phù hợp với doanh nghiệp. Dưới đây là 5 phương pháp xử lý bùn thải được các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất. Trong quá trình thực hiện nên sử dụng những thiết bị chuyên dụng để thu gom và xử lý bùn thải, đảm bảo an toàn sức khỏe cũng như tối ưu quy trình thực Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp vật lý đơn giảnXử lý bùn thải bằng phương pháp vật lý là một trong những phương pháp được sử dụng khá nhiều hiện nay, phù hợp với mô hình doanh nghiệp ở nước ta. Với phương pháp xử lý đơn giản này, các đơn vị sẽ tách các chất thải từ quá trình sản xuất ra khỏi bùn bằng phương pháp Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp hóa họcMột cách xử lý bùn thải công nghiệp được nhiều doanh nghiệp sử dụng là xử lý bằng phương pháp hóa học. So với phương pháp trên thì phương pháp này khá phức tạp. Kĩ sư chuyên môn sử dụng các hóa chất cho phản ứng với hỗn hợp cần xử lý. Các chất hóa học có tác dụng loại bỏ các thành phần độc hại trong chất thải và chuyển nó về trạng thái bình thường hoặc không gây hại cho sức khỏe con người và môi trường. 3. Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp kết tủaPhương pháp tạo kết tủa là phương pháp sử dụng các chất hóa học để chuyển các chất thải thành các chất không tan/chất kết tủa. Các chất này được chuyển hóa thành các cặn bùn, có thể dễ dàng tiến hành xử lý bằng phương pháp hút Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp oxi hóa khửXử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp oxi hóa khử nhằm biến các chất độc hại có trong bùn hoặc chất thải thành các chất ít độc hơn hoặc loại bỏ hoàn toàn chất độc. Tuy nhiên, chi phí để xử lý bùn theo phương pháp này khá cao nên ít khi được các doanh nghiệp áp Xử lý bùn thải công nghiệp bằng phương pháp chôn lấp nhanhĐây là phương pháp xử lý được sử dụng phổ biến nhất ở nước ta, sau khi tiến hành hút bùn công nghiệp, chúng sẽ được đóng gói hoặc hóa kết tủa để dễ dàng đưa đến bãi chôn. Bãi chôn lấp bùn thải cũng được xây dựng đúng với quy trình, phải có giấy phép từ các cơ quan chức năng. Bãi chôn lấp cần phải đáp ứng được các yêu cầu về địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn… Đặc biệt, phải cách xa khu dân cư, các khu đất trồng lương thực, gần các nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt và trồng trình xử lý bùn thải công nghiệp cần được thực hiện bởi những tổ chức có chuyên môn vì đối với bùn thải nguy hại và bùn thải vi sinh rất dễ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Bên cạnh đó, các đơn vị khi tiến hành thu gom và xử lý cần sử dụng những thiết bị chuyên dụng để tránh được những rủi ro không đáng có, cũng như tối ưu được quá trình thu gom, vận chuyển và xử hiểu thêm về Có bao nhiêu biện pháp xử lý bùn thải công nghiệp hiện nay?Xử lý bùn thải công nghiệp là việc làm quan trọng mà các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất cần lưu ý trong việc tìm kiếm đơn vị xử lý chuyên nghiệp. VIVABLAST tự hào là đơn vị xử lý bùn thải với nhiều năm kinh nghiệm. Các chuyên gia của VIVABLAST sẽ trực tiếp đánh giá và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp với tình trạng cụ thể của mỗi doanh nghiệp. Để nhận được tư vấn cụ thể về dịch vụ xử lý bùn thải, hãy liên hệ với VIVABLAST thông qua các thông tin dưới dâyĐiện thoại + 84-28 38 965 006/7/8Fax + 84-28 38 965 004Email vivablast
tần suất thái bình