tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ Luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Đối với các hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP có mức phạt tiền từ 1.000.000 - 3.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo quy định mới tại Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP mức phạt đối với các hành vi này đã được tăng lên đáng kể, cụ thể: "1. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được thực hiện làm rõ bản chất của tình yêu là "không thể chia sẻ được" là cơ sở duy trì hạnh phúc gia đình, duy trì sự bền vững của chính quan hệ hôn nhân. Tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã giảm Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng: 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng Như đã phân tích trên thì nếu như chồng ngoại tình thì người chồng đã vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng. Vậy thì người vợ hoàn toàn có quyền yêu cầu đơn phương ly hôn nếu nghiêm trọng hơn thì người chồng sẽ phải bị phạt hình sự về tội vi phạm chế độ Tra Cứu Khoản Vay Atm Online. Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn 24/7 1900 6198 Hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong chế định hôn nhân và để đảm bảo nguyên tắc này không bị vi phạm, pháp luật Việt Nam đặt ra những quy định về hành vi vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng. Vậy, tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định như thế nào? Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật 24/7 1900 6198 Chế độ một vợ một chồng là gì?Nội dung nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồngCác yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồngChủ thể của tội phạmMặt chủ quan của tội phạmMặt khách quan của tội phạmKhách thể của tội phạmXử phạt tội vi phạm chế độ một vợ một chồngKhuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Hôn nhân là dựa trên cơ sở tình yêu một nam một nữ khi họ mong muốn được về chung sống với nhau và tạo thành một gia đình. Theo đó, chế độ một vơ một chồng đảm bảo được tình yêu giữa họ có thể bền vững và duy trì hạnh phúc về sau cho một gia đình. Hôn nhân một vợ một chồng là điều vô cùng quan trọng trong cuộc sống lâu dài. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có nghĩa trong thời kỳ hôn nhân chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp và là quan hệ hôn nhân duy nhất. Chế độ một vợ một chồng là một trong những nguyên cơ bản của hôn nhân. Hôn nhân được tiến bộ, tự nguyên và bình đẳng giữa vợ và chồng, thì chế độ một vợ một chồng là nguyên tắc được áp dụng. Theo đó, hôn nhân một vợ một chồng là hôn nhân được xác lập khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Việc xác lập này được thực hiện giữa một người vợ với một người chồng và trong thời kỳ hôn nhân cũng vậy. Nội dung nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Luật Hôn nhân và gia đinh 2014 quy định “Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình” tại Điều 2 “Điều 2. Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình 1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. 2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. 3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con. 4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình. 5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.” Những nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình được kế thừa và được thực hiện từ khi có Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và được sửa đổi bổ sung tới nay để hoàn thiện hơn. Những nguyên tắc này nhằm bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình và phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Một là, hôn nhân là tự nguyện, tự do, tiến bộ và dựa trên cơ sở tình yêu của hai người với nhau Hai là, hôn nhân một vợ một chồng trong đó vợ chồng phải bình đẳng với nhau và phù hợp với quy luật tự nhiên, phát triển tâm lý của con người và đạo đức xã hội Ba là, hôn nhân một vợ một chồng là cơ sở để xây dựng hạnh phúc gia đình Xem thêm bài viết vi phạm chế độ một vợ một chồng Phát hiện vợ, chồng ngoại tình, có nên ly hôn không? Các yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng cần đầy đủ các yếu tố cần và đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi. Ngoài ra, chủ thể của tội phạm này cần thêm yếu tố “người phạm tội phải là người đang có vợ hoặc chồng hoặc một trong hai người phải là người đang có vợ hoặc chồng”. Độ tuổi của chủ thể tội phạm này là những người ở độ tuổi đủ 16 tuổi trở lên. Mặt chủ quan của tội phạm Người phạm tội đã nhận thức rõ được hành vi của mình, biết được họ đã vợ hoặc chồng nhưng vẫn kết hôn và chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng. Hành vi này là hành vi cố ý, do đã thấy trước được hậu quả nghiêm trọng xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng vẫn muốn hậu quả đó tới . Đối với tội vi phạm chế độ một vợ một chồng thì người phạm tội thường không quan tâm tới hậu quả, vì mục đích của họ là được sống chung với người khác. Mặt khách quan của tội phạm Người phạm tội này có những hành vi sau Một là, Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Hai là, Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân. Ba là, Có hành vi gian dối với cơ quan Nhà nước để được đăng ký kết hôn hay tổ chức đám cưới. Khách thể của tội phạm Vi phạm nghiêm trọng chế độ một vợ một chồng – nguyên tắc cơ bản của chế hộ hôn nhân và gia đình; xâm hại tới mối quan hệ gia đình, hôn nhân mà một vợ một chồng đã xây dựng Chuyên viên Nguyễn Thị Ngân – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn 24/7 1900 6198 Xử phạt tội vi phạm chế độ một vợ một chồng Tùy vào mức độ vi phạm mà cơ quan có thẩm quyền xử phạt. Về xử lý hành chính được quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/ NĐ – CP như sau “Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng 1. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với một trong các hành vi sau a Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; b Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;” Vi phạm chế độ một vợ một chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015 quy tại Điều 182 nếu thuộc các trường hợp như sau “Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm a Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm a Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.” Việc chung sống như vợ chồng hay kết hôn giữa người có vợ hoặc chồng với người chưa vợ hoặc chồng đều được coi là hành vi vi phạm nếu biết được người mình đang sống cùng đã có vợ hoặc chồng nhưng vẫn cố ý sống cùng. Việc này đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và đã làm ảnh hưởng hay phá vỡ cuộc sống hạnh phúc của cặp vợ chồng. Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật. Hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail info Khái niệm Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Bộ luật hình sựBình luận về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Bộ luật hình sựKhái niệm Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Bộ luật hình sựTội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 182 Bộ luật hình sự như sauĐiều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năma Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năma Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, vi phạm chế độ một vợ, một chồng được hiểu là trường hợp nam, nữ đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc tuy chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với ngươi mà mình biết rõ là đang có chồng, có luận về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Bộ luật hình sựThứ nhất Các yếu tố cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng– Mặt khách quanMặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau đây+ Về hành vi, có một trong các hành vi sauCó hành vi kết hôn trái pháp luật với người khác trong khi người phạm tội đang có vợ hoặc có chồng một cách hợp pháp hoặc được xác định là hôn nhân thực tế và quan hệ hôn nhân đó còn đang tồn tại hoặc tuy chưa có vợ, có chồng mà kết hôn trái pháp luật với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ hợp kết hôn trái pháp luật thể hiện qua việc dùng thủ đoạn khai báo gian dối và chưa có vợ hoặc chồng, hoặc mua chuộc cán bộ có thẩm quyển để tiến hành việc kết hôn nhằm xác lập quan hệ hôn nhân mới giữa nam, nữ trong khi chính họ đang có vợ hoặc vi sống như vợ chồng với người khác nếu không thuộc trường hợp kết hôn nêu ở trên thì hành vi chung sống như vợ chồng với người khác cũng cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Hành vi nêu trên được thể hiện ở chỗ đôi nam, nữ mà một hoặc cả hai bên đang có vợ hoặc chồng nhưng lại chung sống với nhau không đăng ký kết hôn và coi nhau như vợ chồng một cách công khai như ở chung một nhà, công khai mối quan hệ vợ chồng với hàng xóm, cha mẹ, bạn bè, có tài sản chung, con chung.Tuy nhiên, thực tế việc xác định dấu hiệu nàv không dễ dàng vì phần đông việc chung sống ở dạng này thường diễn ra một cách lén lút, bí mật, trừ một số trường hợp khá đặc biệt có sự đồng ý của vợ hoặc chồng cho lấy thêm vợ hoặc chồng ý+ Hôn nhân thực tế được hiểu là trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký trước chính quyền, không vi phạm điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình và quan hệ này phải xác lập trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực.+ Trường hợp người có chồng, có vợ hợp pháp nhưng đang ly thân mà kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ chồng thì vẫn bị coi là phạm vào tội này. + Nếu hậu quả nghiêm trọng xảy ra mà cấu thành một tội phạm khác thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập dụ A đi công tác xa đã chung sống với chị B như vợ chồng, nên đã tìm cách giết vợ để được chung sống với B một cách trọn vẹn. Hành vi của A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội là tội vi phạm chế độ một vợ một chồng và tội giết người.+ Nếu người đang có vợ có chồng hợp pháp mà sống như vợ như chồng với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giao cấu với trẻ em.+ Nếu sống chung như vợ chồng với trẻ em chưa đủ 13 tuổi thì họ phạm vào tội hiếp dâm trẻ em. + Dấu hiệu khác Hành vi nói trên phải gây hậu quả nghiêm trọng như làm cho gia đình họ đổ vỡ phải ly hôn… hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.– Khách thểHành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, một trong những nguyên tắc cơ bản quy định Luật Hôn nhân và gia đình 2014. – Mặt chủ quanNgười phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý trực tiếp.– Chủ thểChủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, phải dù tuổi kết hôn nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên và phải là đang có vợ hoặc có chồng hợp pháp hoặc là người chưa có vợ, chưa có chồng nhưng biết rõ người khác đang có chồng có vợ, mà vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người với người còn lại mà chưa có vợ hoặc có chồng khi biết rõ bên kia đã có chồng hoặc có vợ mà vẫn đồng ý kết hôn với họ thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này với vai trò đồng tế có trường hợp đồng tính luyến ái chung sống với nhau như vợ chồng theo chúng tôi thì không thể coi là hành vi vi phạm chế độ một vợ một hai Khung hình phạt tội vi phạm chế độ một vợ, một chồngMức hình phạt của tội phạm này được chia thành hai khung cụ thể như sau– Khung một khoản 1Có mức hình phạt là phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ các dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan.– Khung hai khoản 2Có mức hình phạt là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm nếu vi phạm một trong các điều sau+ Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;+ Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả... >>> Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài 24/7 gọi 1900 61981. Cơ sở pháp lý- Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau "1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. 2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".2. Các dấu hiệu của tội phạma Chủ thể- Những người từ đủ 16 tuổi trở Khách thể- Đối tượng của tội phạm là chế độ một vợ, một chồng - một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật hôn nhân và gia đình quy Mặt khách quan của tội phạm phải đảm bảo cả hai yếu tố hành vi và có hậu quả xảy ra- Hành vi+ Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.+ Kết hôn với người khác trái pháp luật hành vi lừa dối các cơ quan nhà nước để đăng ký kết hôn hoặc tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán có vợ, có chồng nhưng lại nói dối là mình chưa có, hoặc đã li hôn, hoặc vợ hoặc chồng mình đã chết…+ Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có nhiên, nếu hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng và những người phạm tội đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà vẫn còn vi phạm thì mới cấu thành tội Hậu quả phải gây ra hậu quả nghiêm trọng như+ Người vợ, người chồng hợp pháp phải bỏ việc, phải tốn kém tiền của để lo giải quyết hàn gắn quan hệ vợ chồng.+ Người vợ, người chồng hợp pháp do quá uất ức mà sinh ra bệnh tật, tự sát, con cái không nơi nương tựa.+ Phạm tội khác như giết người, cố ý gây thương tích từ 21% trở lên, gây rối trật tự công cộng, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 50 triệu đồng trở lên.d Mặt chủ quan của tội phạm- Phải do lỗi cố ý gây ra- Mục đích mong muốn sống như vợ chồng trái pháp luật mặc dù đã biết rõ hành vi của mình là sai vị tìm hiểu thêm thông tin chi tiết hoặc liên hệ với Luật sư, Luật gia của Công ty Luật TNHH Everest để yêu cầu cung cấp dịch vụĐịa chỉ Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long Tower, 98 Ngụy Như Kom Tum, Thanh Xuân, Hà NộiVăn phòng giao dịch Tầng 2, Toà nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà NộiĐiện thoại 04 - Tổng đài tư vấn pháp luật 1900-6218E-mail[email protected], hoặc E-mail [email protected] Quy định về chế độ "một vợ, một chồng"Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội "Vi phạm chế độ một vợ, một chồng" như sauĐiều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năma Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năma Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn áp dụng, các thuật ngữ “kết hôn” “người đang có vợ hoặc chồng” hoặc “người chưa có vợ hoặc chồng” được hiểu như sauKết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn [1].Người đang có vợ hoặc có chồng mà có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khácĐang có vợ hoặc có chồng được hiểu là người đã kết hôn có đăng ký kết hôn hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng một quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án về công nhận thuận tình ly hôn, xử cho ly hôn hay tiêu hôn vì vi phạm điều kiện kết hôn do luật định hoặc một bên chết, mất tích đã bị Toà án tuyên bố mất tích… [2].Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợKết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn [3]. Chính vì vậy, người chưa có vợ, có chồng là người chưa từng kết hôn hoặc đã kết hôn nhưng đã chấm dứt hôn nhân. Chỉ khi người chưa có vợ, có chồng biết được người mình chung sống là người đang có vợ, có chồng thì mới được xem là hành vi khách quan của tội phạm sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng [4]. Tại Thông tư Liên tịch Số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định [5] "Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó". Đối với các yếu tố cấu thành tội phạm này đã thể hiện rõ trong điều luật nên tác giả không phân tích thêm. Về mặt khách quan, tội phạm được xem là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi trên làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ từ góc độ lý luận và thực tiễn áp dụngThứ nhất, về khung hình phạt được áp dụng Theo quy định tại khoản 2 Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015, phạm tội thuộc một trong các trường hợp 1 Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; 2 Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 tiết định khung hình phạt tại điểm a khoản 2 Điều 182 “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát” là một bổ sung mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng, quy định của pháp luật đã cụ thể, rõ ràng, trong quá trình áp dụng không có vướng mắc. Tuy nhiên, đối với tình tiết định khung hình phạt “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát”, điều luật quy định hình phạt cao nhất là 03 năm tù là còn nhẹ, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm, hậu quả của tội phạm. Xuất phát từ nguyên tắc “tính mạng, sức khỏe con người là bất khả xâm phạm” đã được quy định trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng hình sự và một số văn bản luật khác, hành vi này cần được xử lý nghiêm khắc hơn. Hơn nữa, đối với loại tội phạm này, đặt giả thiết trong một vụ việc cụ thể, nếu người chồng có hành vi phạm tội chế độ một vợ, một chồng theo quy định Điều 182 Bộ luật Hình sự dẫn đến người vợ tự sát, hậu quả để lại là những đứa con còn nhỏ không có người mẹ chăm sóc, giáo dục, gia đình có bố mẹ già mất đi trụ cột lao động chính, nuôi dưỡng... Hoặc cũng với ví dụ trên nếu dẫn đến đứa con mới chỉ 13, 14 tuổi tự sát thì có thể nhận thấy hậu quả nghiêm trọng của hành vi phạm tội gây vì vậy, đối với tình tiết phạm tội như trình bày ở trên, theo quan điểm của tác giả, trong thời gian tới cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung theo hai phương án hoặc có thể tăng hình phạt ở mức cao hơn 03 năm tù hoặc điều luật có thể quy định thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nhằm bảo đảm răn đe, phòng ngừa tội phạm. Một trong những nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội, bảo đảm tốt nhất quyền lợi của người phạm tội đó là hạn chế thấp nhất áp dụng hình phạt tù, khuyến khích áp dụng các hình phạt khác nhằm giúp đỡ người phạm tội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội, chính vì vậy, trong giả thiết tác giả nêu trên điều luật có thể quy định hình phạt bổ sung là hình phạt hai, khó khăn khi xác định hành vi “chung sống như vợ chồng”.Hành vi khách quan của tội "Vi phạm chế độ một vợ, một chồng" là hành vi của người đang có vợ, có chồng hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng quy định “chung sống như vợ chồng” làm căn cứ đển truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số vụ án cụ thể trong thời gian qua đã có những cách hiểu và quan điểm khác nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Vì vậy, khi áp dụng tinh thần Thông tư Liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng Chương "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” trong Bộ luật Hình sự năm 1999, việc chung sống như vợ chồng được quy định “chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…”[6].Với quy định trên có hai cách hiểu như sauQuan điểm thứ nhất cho rằng Xác định hành vi “sống chung như vợ chồng” phải chứng minh đầy đủ ba yếu tố như Thông tư Liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC đã quy định bao gồm Thứ nhất, có con chung; Thứ hai, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng; Thứ ba, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó. Nếu thiếu một trong ba dấu hiệu như đã nêu thì dù họ có sống chung gây ra hậu quả nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 182 Bộ luật Hình sự cũng không cấu thành tội điểm thứ hai xác định hành vi “sống chung như vợ chồng” để truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ cần chứng minh và thỏa mãn một trong các yếu tố hoặc có con chung hoặc được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng hoặc có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ nghiên cứu, tác giả cho rằng, các điều kiện về kết hôn, ly hôn, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình đã được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn áp dụng. Hành vi của một người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ thuộc một trong các hành vi bị cấm theo pháp luật về hôn nhân gia đình [7]. Bên cạnh đó, khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy định “chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”. Vì vậy, thỏa mãn quy định chung sống như vợ chồng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ cần là quan hệ cùng chung sống giữa người nam và người nữ như các cặp vợ chồng bình thường, điểm khác biệt duy nhất là quan hệ giữa họ mang tính bất hợp pháp, không có đăng ký kết hôn và cả người nam, nữ đều biết rõ tình trạng hôn nhân của nhau, đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó… Quan hệ chung sống bất hợp pháp giữa người nam và người nữ nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 182 sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy phân tích trên cho thấy, Thông tư Liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn áp dụng Chương "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ cần bỏ quy định “Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung ” và giữ nguyên quy định “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó” sẽ bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Qua đó, giải quyết, khắc phục được vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng như tác giả trích dẫn ở nhiên, để có cơ sở áp dụng pháp luật, trong thời gian tới, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn cụ thể hơn về hành vi “chung sống như vợ chồng” làm căn cứ pháp lý xác định có hành vi phạm tội hay không phạm tội? Bởi vì, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định “chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”, đối với quy định như thế nào là “chung sống như vợ chồng” đã cụ thể, rõ ràng, vấn đề đặt ra trong thực tiễn đó là hiểu và xác định như thế nào về quy định “coi nhau như vợ chồng”. Thực tế có rất nhiều trường hợp họ công khai chung sống bất hợp pháp nhưng họ không coi nhau như vợ chồng, dù hành vi của họ gây ra có nghiêm trọng cũng sẽ không phạm tội "Vi phạm chế độ một vợ, một chồng" theo quy định, thực trạng này dẫn đến nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, quy định của pháp luật không được áp dụng thống VĂN HOÀNG-Tòa án quân sự Quân khu 1Nguồn Luật sư Việt Nam[1] Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.[2] Khoản 4 Điều 2 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.[3] Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.[4] Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.[5] Thông tư Liên tịch này đã hết hiệu lực thi hành, hiện nay Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có văn bản mới hướng dẫn áp dụng nên có thể áp dụng tinh thần TTLT số 01/2001.[6] “Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng dưới khía cạnh xã hội – Pháp lý và những vấn đề đặt ra”, Nguyễn Thị Lan, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Luật học, Tập 31, Số 1 2015. trang web Điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email info Cập nhật lúc 1453, Thứ hai, 04/03/2019 GMT+7 Vừa qua trên một số báo có bài viết về một người đàn ông có 2 giấy đăng ký kết hôn. Trên thực tế tình trạng chung sống như vợ chồng không phải là hiếm. Tôi muốn hỏi các hành vi như thế nào là vi phạm chế độ một vợ một chồng? Vi phạm chế độ một vợ một chồng có phạm tội? Kỳ lạ một người đàn ông được phường “cho” lấy 2 vợ Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng là hành vi của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc gây hậu quả... Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể có một trong các hành vi sau + Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. + Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn kể cả hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân. Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn; người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Hôn nhân thực tế là hôn nhân là hôn nhân có đủ điều kiện kết hôn về nội dung, chỉ vi phạm điều kiện về hình thức là không có đăng ký kết hôn. các điều kiện về nội dung là Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; việc chung sống với nhau được gia đình một hoặc cả hai bên chấp nhận; việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Hành vi sống chung như vợ chồng với người khác là hành vi của nam và nữ không có đăng ký kết hôn nhưng về sống chung với nhau như vợ chồng, có thể có tổ chức lễ cưới hoặc không tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; gia đình có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; họ sống với nhau như vợ chồng một cách công khai, mọi người xung quanh đều biết và cho rằng họ là vợ chồng. Sẽ không phải là sống chung với nhau như vợ chồng nếu như nam và nữ lén lút quan hệ tình dục với nhau theo quan niệm mà xã hội cho là “ngoại tình”. + Kết hôn với người khác trái pháp luật là hành vi lừa dối các cơ quan Nhà nước để đăng ký kết hôn hoặc tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán; người phạm tội có thể lừa dối đối với người mà mình kết hôn như nói dối là mình chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ hoặc có chồng nhưng đã ly hôn hoặc đã chết làm cho người mà mình định kết hôn tin mà đồng ý kết hôn. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp cả hai người nam và nữ đều biết nhau đã có vợ hoặc có chồng nhưng vẫn cố tình lừa dối các cơ quan Nhà nước để được kết hôn trái pháp luật. + Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ là trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng biết rõ người khác đã có chồng, đã có vợ nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này. Khi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đã có chồng hoặc có vợ, người phạm tội phải biết rõ người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là người đang có chồng hoặc có vợ. Nếu không biết rõ thì không phải hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Thông thường, trường hợp này người chưa có vợ, chưa có chồng nhất là người chưa có chồng bị người đang có vợ hoặc đang có chồng lừa dối nên mới kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này. Hậu quả của tội phạm này là hậu quả nghiêm trọng, nếu hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng mà người phạm tội cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì cũng chưa cấu thành tội phạm này. Hậu quả ở đây được liệt kê trong điều 182 BLHS 2015 như sau Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn, Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó. Tội “vi phạm chế độ một vợ, một chồng” được quy định tại điều 182 BLHS 2015 như sau "Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm a Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm a Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó". Luật sư Nguyễn Văn Lâm Đoàn Luật sư Hà Nội Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay chỉ công nhận và đã có mức phạt cho tội vi phạm chế độ một vợ một những năm gần đây, tình hình tội vi phạm chế độ một vợ một chồng có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, hình thức và thủ đoạn đa dạng, tinh vi, làm ảnh hưởng lớn đến hạnh phúc của các gia đình và làm tổn thương các tế bào của xã bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, pháp luật Việt Nam đặt ra những chế tài pháp lý áp dụng với những người cố ý không tuân thủ những quy định này. Trong đó, chế tài mang tính chất cưỡng chế mạnh mẽ và nghiêm khắc nhất đó chính là xử lý hình nói cách khách, pháp luật Việt Nam bảo hộ và phát triển chế độ hôn nhân một vợ một chồng, bất kỳ hành vi nào phá vỡ quan hệ hôn nhân một vợ một chồng tùy từng mức độ có thể bị xử lý hình như thế nào là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng? Mức phạt trách nhiệm hình sự đối với tội “Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng” được quy định như thế nào? Kính mời Quý khách hàng, Quý độc giả cùng Hãng Luật Thành Công tìm hiểu bài viết tư vấn chi tiết của Luật sư dưới đây– Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH Hợp nhất Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018;– Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng là gì?Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được hiểu là trường hợp nam, nữ đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc tuy chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng mà không đăng ký kết chung sống này được chứng minh bằng việc họ có đời sống sinh hoạt chung, có tài sản chung, có con chung với nhau và được mọi người xung quanh thừa nhận là vợ dấu hiệu cấu thành Tội vi phạm chế độ một vợ một chồngĐể truy cứu trách nhiệm về Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng thì cơ quan có thẩm quyền phải có nghĩa vụ chứng minh người phạm tội có các hành vi để đủ yếu tố cấu thành về tội danh này, ngược lại nếu không chứng minh được có hành vi vi phạm thì không được buộc người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng được quy định tại Điều 182 BLHS 2015 nếu như hành vi của họ đáp ứng đủ các dấu hiệu cấu thành của tội phạm này. Bao gồmMặt chủ thể tội vi phạm chế độ một vợ một chồng– Chủ thể của “Tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” là người có năng lực trách nhiệm hình sự và thuộc một trong hai trường hợp sau• Là người đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên và đang có vợ/ có chồng• Là người đủ 16 tuổi trở lên tuy chưa có vợ/có chồng nhưng biết rõ người kia đang có vợ/có khách thể tội vi phạm chế độ một vợ một chồngHiến pháp, Bộ Luật Hình Sự, Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam ghi nhận và bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ, một phạm này có hành vi làm phá vỡ quan hệ hôn nhân một vợ một chồng, tác động trực tiếp và làm xâm hại đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng được luật hình sự bảo chủ quan tội vi phạm chế độ một vợ một chồng– Người phạm tội “vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ về tính chất pháp lý của hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn lựa chọn thực hiện.– Động cơ phạm tội thường là xuất phát bởi ham muốn thỏa mãn tham vọng của bản thân. Người phạm tội có mục địch là nhằm xác lập quan hệ hôn nhân mới hoặc nhằm được chung sống như vợ chồng với người khách quan tội vi phạm chế độ một vợ một chồngNgười phạm tội “vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng” có hành vi thực hiện bằng một trong hai dạng hành động• kết hôn trái pháp luật• chung sống như vợ chồng với người khácHoàn cảnh phạm tội đối với tội danh này là bản thân mình là người đang có vợ/ có chồng hoặc bản thân là người chưa có vợ, có chồng nhưng lại biết rõ đối tác của mình là người đã có vợ/ có chồng.– Việc kết hôn trái pháp luật thể hiện qua việc dùng những thủ đoạn như khai báo gian dối là chưa từng kết hôn, hoặc mua chuộc cán bộ có thẩm quyền để tiến hành kết hôn nhằm xác lập quan hệ hôn nhân mới giữa nam, nữ trong khi chính họ đang có vợ hoặc chồng.– Chung sống như vợ chồng với người khác trong khi bản thân là người đang có vợ, có chồng hoặc bản thân tuy chưa có vợ, có chồng nhưng lại biết rõ đối tác của mình là người đang có vợ/có chồng được hiểu là hành vi cùng sinh sống một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia nhiên, hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác chỉ cấu thành tội phạm khi thuộc một trong hai trường hợp sau đây• Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;• Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi số lưu ý của Luật sư Hãng luật Thành Công tội vi phạm chế độ một vợ một chồng1. Trường hợp người có chồng, có vợ hợp pháp nhưng đang ly thân mà kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ chồng thì vẫn bị coi là phạm vào tội Nếu hậu quả nghiêm trọng xảy ra mà cấu thành một tội phạm khác thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập dụ A đi công tác xa đã chung sống với chị B như vợ chồng, nên đã tìm cách giết vợ để được chung sống với B một cách trọn vẹn. Hành vi của A bị truy cứu trách nhiệm về hai tội vì phạm chế độ một vợ một chồng và tội giết hình phạt đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồngKhung hình phạt cơ bản tội vi phạm chế độ một vợ một chồngNgười nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năma Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;b Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi hình phạt tăng nặng tội vi phạm chế độ một vợ một chồngPhạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năma Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;b Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ phạt vi phạm hành chính tội vi phạm chế độ một vợ một chồngTrường hợp một người thực hiện các hành vi sau đâya Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;b Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;c Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có chưa có hậu quả nghiêm trọng như làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; hoặc cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng thì chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng”.Do đó, theo khoản 1 điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, thì chỉ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền là từ đồng đến số lưu ý của Hãng Luật Thành Công tội vi phạm chế độ một vợ một chồng* Trường hợp 1 Nếu quan hệ hôn nhân đang tồn tại là quan hệ hôn nhân trái pháp luật mà một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một dụ Đối với những người chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 trở đi nếu nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, thì pháp luật quy định không được công nhận là vợ chồng.=> Khi đó, một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.* Trường hợp 2 Những người đã chung sống với nhau như vợ chồng hôn nhân thực tế trước ngày 03-01-1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn.– Pháp luật thừa nhận những người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03-01-1987 và đang sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là trường hợp hôn nhân thực tế.=> Do đó, trường hợp này được xem là người đang có vợ hoặc có chồng. Khi đó, một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.* Trường hợp 3 Nếu một trong hai người nam hoặc nữ bị lừa dối mà đồng ý kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có hành vi gian dối thì chỉ người có thủ đoạn gian dối mới bị coi là vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn người bị lừa dối không phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một dụ Trần Trọng K là công nhân thuộc Công ty bảo dưỡng đường bộ NH. K đã có vợ hợp pháp ở quê và hai con. Do điều kiện công việc nên K thường xuyên phải sống xa nhà; năm 1993, K lừa dối để kết hôn với chị Tần Thị D và sinh được một con trai, đơn vị phát hiện đã xử lý hành chính và đã bị Tòa án nhân dân huyện hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa K với chị D. Năm 1999, K lại lừa dối chị Hoàng Thị O và chính quyền địa phương nơi K đang lao động để UBND xã lại đăng ký kết hôn cho K và O. Trong trường hợp này, chỉ có K là người có hành vi phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn chị D và O là người bị K lừa dối, không có hành vi phạm tội.

tội vi phạm chế độ một vợ một chồng