vì sao phóng sinh lươn

thứ nhất đa số chúng nó có sắc. chân dài body ngon mặt dễ nhìn nhưng ánh mắt đéo bao giờ dấu được sự gian xảo sắc lẹm. thứ 2 hoàn cảnh. 80% là nhà nghèo sống trong cảnh thiếu thốn. bố mẹ bỏ nhau rượu chè đánh vợ đánh con dẫn đến việc chán đời bạn bè lôi kéo đi bụi. vì nghèo khó nên chúng nó dễ bị cám dỗ bởi vật chất và ước vọng làm giầu đổi đời. Thử thách mạo hiểm nhất ở Nghệ An là vượt thác nước Khe Rèm tại vườn quốc gia Pù Mát. Với độ cao 220m và độ đốc 80 độ, thí sinh phải leo lên điểm đánh dấu ở phía trên. Sự an toàn của các tay đua được đảm bảo bởi đội ngũ cascadeur. Tuy nhiên, không phải ai C. Thần kinh D. Bài tiết E. Sinh dục. 3.Giun hình ống là loài: A. Lưỡng tính vì có cơ quan sinh dục đực và cái riêng biệt trên mỗi cá thể. B. Đơn tình vì có cơ quan sinh dục đực và cái riêng biệt trên mỗi cá thể. C. Lưỡng tính vì không có con đực và cái riêng biệt . @D. Việc đưa vi sinh vào nước uống sẽ giúp hệ thống tiêu hóa của vịt tốt hơn, hấp thụ dinh dưỡng nhiều hơn. Ngoài ra, HTX Đông Xuyên còn đang dùng chế phẩm sinh học là vi sinh để đưa vào làm công thức tỏi mật ong ựng dụng trong phòng bệnh cho vịt. - Giun lươn lạc chỗ có thể gây những triệu chứng viêm phổi, áp xe phổi, hen phế quản, gây viêm phổi mô kẽ, xuất huyết nhu mô, chấm xuất huyết tại các phế nang, suy hô hấp. - Ấu trùng giun lươn gây phì đại hạch, viêm nội tâm mạc, viêm tụy, suy gan, suy thận, đau khớp, viêm khớp, đau cơ, phù toàn thân. 3. CẬN LÂM SÀNG 3.1. Xét nghiệm Nếu dùng thuốc kháng sinh để tiêu diệt vi trùng trong toàn bộ hang ngách thì vi trùng sẽ chết hết nhưng xác vi trùng, máu mủ và các hoại tử vẫn nằm trong hang và không lâu những phần tử ngoại sinh này sẽ lại gây vết viêm mới. Cái khó điều trị của bệnh mạch lươn là ở đó. Tra Cứu Khoản Vay Atm Online. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của lươn đồng đã cho thấy Tỷ lệ giới tính trong quần chủng tự nhiên của lươn đồng đực/lưỡng tính/cái là 37,03% 18,53% 44,44%. Tháng sinh sản cao điểm của lươn là tháng 4, lươn có khả năng sinh sản sớm hơn vào cuối tháng 3 nếu gặp điều kiện thuận lợi. Lươn đồng là loài đẻ nhiều lần trong năm. Sức sinh sản tuyệt đối cao nhất ở nhóm có chiều dài từ 54-70 cm là 638,67trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trung bình là 3,54-7,89 trứng/gam trọng lượng cơ thể. Kết quả từ các tiêu bản cho thấy lươn đồng là loài lưỡng tính. Từ khóa Đặc điểm sinh học, lươn đồng, lưỡng tính, tỷ lệ giới tính, sức sinh sản. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for free Tạp chí Khoa học – Đại học Huế ISSN 1859-1388 Tập 104, Số 05, 2015, Tr. 139-151 *Liên hệ nghiats34 Nhận bài 14-06-2015; Hoàn thành phản biện 29-06-2015; Ngày nhận đăng 25-07-2015. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA LƯƠN ĐỒNG Monopterus albus Zuiew, 1793 TẠI THỪA THIÊN HUẾ Võ Đức Nghĩa1*, Lê Thị Thu An1, Trần Vinh Phương2 1Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế 2Trung tâm Ươm Tạo và Chuyển Giao Công nghệ - Đại học Huế Tóm tắt. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của lươn đồng đã cho thấy Tỷ lệ giới tính trong quần chủng tự nhiên của lươn đồng đực/lưỡng tính/cái là 37,03% 18,53% 44,44%. Tháng bắt đầu sinh sản của lươn là tháng 4, lươn có khả năng sinh sản sớm hơn vào cuối tháng 3 nếu gặp điều kiện thuận lợi. Lươn đồng là loài đẻ nhiều lần trong năm. Sức sinh sản tuyệt đối cao nhất ở nhóm có chiều dài từ 54-70cm là 638,67 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trung bình là 3,54-7,89 trứng/gam trọng lượng cơ thể. Kết quả từ các tiêu bản cho thấy lươn đồng là loài lưỡng tính. Từ khóa Đặc điểm sinh học, lươn đồng, lưỡng tính, tỷ lệ giới tính, sức sinh sản. 1 Đặt vấn đề Hiện nay, cùng với phong trào nuôi thủy đặc sản khác như cá chình, ba ba, ếch, phong trào nuôi lươn cũng đang phát triển, nhằm cung cấp đủ khối lượng cho nhu cầu thị trường ngày càng tăng và góp phần làm giảm áp lực khai thác lươn từ tự nhiên. Tuy nhiên, một khó khăn lớn đặt ra cho phong trào nuôi lươn là con giống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên và không đảm bảo số lượng cũng như chất lượng. Trước nhu cầu của người nuôi, đã có một số trại nghiên cứu sản xuất lươn giống nhưng kết quả còn rất hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản của lươn, từ đó làm cơ sở cho việc sinh sản nhân tạo lươn thành công cung cấp cho thị trường là một yêu cầu cơ bản và rất quan trọng. 2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu Vật liệu - Lươn đồng Monopterus albusZuiew, 1793 - Thu mẫu ở các nông hộ làm nghề khai thác lươn trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. 140 - Thời gian thu mẫu từ tháng tháng 1/2015 đến tháng 5/2015. Tổng số mẫu nghiên cứu là 135 mẫu có khối lượng giao động từ 12,8g/con đến 500g/con Phương pháp nghiên cứu - Mẫu lươn được giải phẫu để tính các chỉ tiêu sinh sản. + Xác định tỷ lệ đực cái của lươn thông qua quan sát tuyến sinh dục và tiêu bản. + Chiều dài của lươn được đo từ mõm đến cuối phần đuôi. + Sức sinh sản tuyệt đối = Tổng số trứng có trong buồng trứng của mỗi cá thể ở giai đoạn IV chín muồi sinh dục + Sức sinh sản tương đối SSSTĐ trứng/gam = Sức sinh sản tuyệt đối/ trọng lượng thân. + Độ béo Fulton % + Độ béo Clark % Trong đó Q Độ béo Fulton; Pg Trọng lượng toàn thân g; P0g Trọng lượng cá bỏ nội quan g; l0 Chiều dài từ mõm đến cuối phần phủ vẩy trên vây đuôi cm + Hệ số thành thục% = Trọng lượng tuyến sinh dục/Trọng lượng cá*100 - Các giai đoạn phát triển của buồng trứng được xác định theo Kiselevit 1923, và 1960, Pravdin 1963, Nguyễn Tường Anh 1999. - Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học, trên phần mềm vi tính Excel. 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Tỷ lệ giới tính trong quần chủng tự nhiên của lươn đồng Trong 135 mẫu lươn thu được, qua giải phẫu để xác định giới tính, chúng tôi thu được sự biến động giới tính của lươn đồng giữa các nhóm kích thước như sau Qua bảng 1, chúng tôi có nhận xét như sau Tỷ lệ đực lưỡng tính cái bắt gặp ở tất cả các kích cỡ là 37,03% 18,53% 44,44%. Ở các nhóm kích thước 21-26,9cm và 54-70cm, tỷ lệ đực cái có sự chênh lệch lớn. Cụ thể, ở nhóm kích thước 21-26,9cm, chúng tôi bắt gặp 100% con cái, ở nhóm kích thước 54-70cm, con đực lại chiếm số lượng lớn 83,87%. Trong 3 nhóm kích thước, nhóm kích thước 27-53,9, số lượng lươn lưỡng tính chiếm tỷ lệ lớn 31,08%, có thể đây là kích 141 cỡ chuyển tính của lươn. Kết quả này phù hợp với nhận định của Tang et al, 1974 “Lươn Monopterus albus là loài lưỡng tính, hình thức lưỡng tính của nó là lưỡng tính kế tiếp, cái trước” Bảng 1 Tương quan giữa nhóm kích thước và tỷ lệ giới tính của lươn đồng Số cá thể lưỡng tínhcon Mối quan hệ giữa hệ số thành thục với độ béo của lươn đồng theo thời gian Trong quá trình phát dục và thành thục của lươn đồng, hệ số thành thục và độ béo của lươn có mối quan hệ với nhau. Để hiểu rõ mối quan hệ đó, chúng tôi tiến hành phân tích 50 mẫu lươn đực và 60 mẫu lươn cái, kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 2 và 3. Qua bảng 2, 3 chúng tôi nhận thấy độ béo của lươn đồng tăng dần từ tháng 2 đến tháng 3 và giảm dần từ tháng 4 đến tháng 5. Điều này chứng tỏ rằng tháng 2 và tháng 3 là giai đoạn lươn tích luỹ chất dinh dưỡng vào cơ và gan, tháng 4 và tháng 5 là giai đoạn lươn chuyển hóa chất dinh dưỡng vào buồng trứng, làm độ béo của lươn giảm xuống, đồng thời buồng trứng tăng dần về kích thước và khối lượng, làm cho hệ số thành thục tăng lên. Kết quả này rất quan trọng trong sinh sản nhân tạo nhằm xây dựng quy trình nuôi vỗ 2 giai đoạn đối với lươn đồng để cung cấp nguồn lươn bố mẹ cho sản xuất giống nhân tạo. Kết quả này phù hợp với nhận định của Nguyễn Chung 2007. 142 Bảng 2 Hệ số thành thục và độ béo của lươn đực 2/2015 3/2015 4/2015 5/2015 0,09 ± 0,04 0,75 ± 0,02 0,85 ± 0,73 1,87 ± 0,57 9, 12, 10, 7, 8, 11, 9,69. 10-3 7,08. 10-3 Bảng 3 Hệ số thành thục và độ béo của lươn cái 2/2015 3/2015 4/2015 5/2015 1,05 ± 0,3 2,25 ± 0,84 3,01 ± 0,24 4,23 ± 0,78 9, 15, 9, 8, 8, 7, 8, 7, Mối quan hệ giữa thời gian và mức độ phát dục của lươn đồng Sự phát triển tuyến sinh dục của lươn đồng phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng và điều kiện sinh thái của thủy vực, đặc biệt là chế độ nhiệt. Trong thời gian nghiên cứu chúng tôi nhận thấy các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của lươn đồng phụ thuộc vào thời gian các tháng trong năm và giữa cá thể đực và cá thể cái cũng có sự thành thục khác nhau. Sự khác nhau đó được thể hiện ở bảng 4 và bảng 5 143 Bảng 4 Các giai đoạn phát triển tinh sào lươn qua các tháng * Ghi chú GĐTS Giai đoạn tinh sào Số trong ngoặc là tỷ lệ phần trăm % giai đoạn phát triển của tinh sào Bảng 5 Các giai đoạn phát triển noãn sào lươn qua các tháng * Ghi chú GĐNS Giai đoạn noãn sào Số trong ngoặc là tỷ lệ phần trăm % giai đoạn phát triển của noãn sào. Kết quả từ bảng 4 và bảng 5 chúng tôi nhận thấy Vào tháng 2 tuyến sinh dục của lươn đực và cái đều xuất hiện giai đoạn I với tần số khá cao lươn đực 53,85%, lươn cái 53,33%. Từ tháng 3 trở đi không thấy cá thể nào mang tuyến sinh dục giai đoạn I. Điều này chứng tỏ tuyến 144 sinh dục của lươn đồng phát triển rất nhanh, thời gian chuyển giai đoạn thành thục ngắn. Đến tháng 3, lươn đực và lươn cái đã xuất hiện tuyến sinh dục giai đoạn IV nhưng với tỷ lệ thấp đực 5,88%, cái 30,77%. Điều này nói lên rằng cuối tháng 3 lươn có thể tham gia đẻ trứng nếu gặp điều kiện thuận lợi nhiệt độ, pH, các điều kiện sinh thái.... Đến tháng 4, tần số xuất hiện giai đoạn 4 ở lươn đực và lươn cái là khá cao, chứng tỏ tháng 4 là tháng bắt đầu mùa sinh sản của lươn đồng. Vào tháng 5, tần số xuất hiện tuyến sinh dục giai đoạn IV ở lươn cái là rất lớn 83,33%, chứng tỏ tháng 5 là tháng đẻ cao điểm của lươn đồng. Kết quả của chúng tôi cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Lý Văn Khánh 2008. Sức sinh sản của lươn đồng Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy lươn đồng là loài có sức sinh sản tuyệt đối thấp, phù hợp với đặc tính làm tổ, bảo vệ và chăm sóc con của lươn đồng. Kết quả nghiên cứu sinh sản của lươn đồng được thể hiện trong bảng 6 Kết quả ở bảng 6 cho chúng tôi một số nhận xét sau Sức sinh sản của lươn đồng thay đổi theo nhóm kích thước. Sức sinh sản tuyệt đối tăng tỷ lệ thuận theo nhóm kích thước còn sức sinh sản tương đối thì không tuân theo quy luật đó. Sức sinh sản tuyệt đối cao nhất ở nhóm có chiều dài từ 54-70cm là 638,67 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trung bình là 3,54-7,89 trứng/gam trọng lượng cơ thể. Sức sinh sản tuyệt đối lớn nhất mà chúng tôi bắt gặp là 750 trứng/cá thể có kích thước 55,5cm và trọng lượng 180g. Kết quả từ nghiên cứu này tương đương với các nghiên cứu trước đây về sức sinh sản của lươn đồng từ 200-1000 trứng/con cái Hill et al. , 2000; Đức Hiệp, 1999; Việt Chương và Nguyễn Việt Thái, 2005; Ngô Trọng Lư, 2002. Bảng 6 Sức sinh sản của lươn đồng Sức sinh sản tuyệt đối trứng/cá thể ±m Sức sinh sản tương đối trứng/g±m 21 - 26,9 27 - 53,9 54 - 70 156,43 ± 43,75 475,70 ± 105,64 638,67 ± 84,24 7,89 ± 4,48 5,04 ± 1,45 3,54 ± 0,07 145 Các giai đoạn phát triển của noãn sào Trên cơ sở sự phân chia tuyến sinh dục cá theo thang 6 bậc giai đoạn của Kixelevits 1925, Sacun và Butskaia 1986, chúng tôi đã xác định được các giai đoạn phát triển của buồng trứng lươn đồng với các đặc điểm sau Giai đoạn I Hình dạng ngoài của tuyến sinh dục Xuất hiện ở những cá thể chưa thành thục. Giai đoạn này bằng mắt thường khó phân biệt được giới tính. Đặc điểm tế bào học Các tế bào sinh dục là các nguyên bào và các noãn bào mới đang lớn lên, có kích thước bé, xếp sát nhau và không theo quy luật. Dưới kính hiển vi thấy nhân tế bào lớn, chiếm hầu hết thể tích của tế bào. Chưa thấy các mạch máu, mô liên kết chưa phát triển. Đặc trưng giai đoạn này là những nguyên bào đang lớn lên. Giai đoạn II Hình dạng ngoài của tuyến sinh dục Tuyến sinh dục vẫn trong suốt, có màu hơi hồng nhưng kích thước lớn hơn. Quan sát kỹ bằng mắt thường có thể thấy rất nhiều chấm nhỏ màu sẫm. Đặc điểm tế bào học Dưới kính hiển vi dễ dàng nhận thấy có sự lớn lên rõ rệt về kích thước so với tế bào trứng ở giai đoạn I. Nguyên nhân là do quá trình phát triển của nguyên sinh gây ra. Nhân không nằm ở chính giữa nữa mà lệch về một phía. Trứng có dạng đa giác do sự phát triển không đều của nguyên sinh chất. Cuối giai đoạn này tế bào trứng bắt đầu tròn hơn. Đã thấy các mạch máu phân bố tới các tế bào trứng. Hình 2 Noãn sào giai đoạn I, II Hình 3 Noãn sào giai đoạn III Độ phóng đại 40x10 146 Giai đoạn III Hình dạng ngoài của tuyến sinh dục Buồng trứng có màu vàng và bằng mắt thường đã có thể phân biệt được đực, cái. Tế bào trứng có màu vàng nhạt được bọc trong một bao chung với số lượng lớn. Có thể thấy rất rõ các mạch máu đỏ, rẽ làm nhiều nhánh và phân bố trên bề mặt của buồng trứng. Đặc điểm tế bào học Kích thước tế bào trứng tiếp tục tăng lên, có nhiều biến đổi quan trọng liên quan đến việc tích luỹ chất dinh dưỡng, chuẩn bị cho quá trình đẻ trứng và phát triển phôi sau này. Nang trứng được hình thành xung quanh noãn. Đặc trưng của giai đoạn này là sự xuất hiện các không bào và các hạt noãn hoàng. Kết thúc thời kỳ này các hạt noãn hoàng tích lũy đầy đủ. Buồng trứng giai đoạn này có các tế bào giai đoạn I, II đang phát triển. Giai đoạn IV Hình dạng ngoài của tuyến sinh dục Buồng trứng bước vào thời kỳ chín, có kích thước và trọng lượng tối đa. Buồng trứng có màu vàng đậm hơi ngã sang màu cam. Bằng mắt thường có thể nhìn rất rõ các hạt trứng. Cuối giai đoạn này lươn có thể tham gia đẻ trứng. Đặc điểm tế bào học Kích thước tế bào trứng tăng tối đa, kích thước lớn nhất. Trứng tròn và rời, nhân tế bào lệch về cực động vật nơi chứa phần lớn nguyên sinh chất. Cực thực vật chủ yếu là noãn hoàng trộn lẫn với các giọt mỡ. Bên cạnh các tế bào trứng giai đoạn IV còn thấy có nhiều tế bào trứng ở giai đoạn II, III và một số ít giai đoạn I. Hình 4 Noãn sào giai đoạn IV Hình 5 Noãn sào giai đoạn V Hình 6 Noãn sào giai đoạn VI Giai đoạn V Hình dạng ngoài của tuyến sinh dục Giai đoạn này diễn ra rất nhanh, khi tuyến sinh dục phát triển đến giai đoạn này chỉ cần dùng tay vuốt nhẹ trứng đã chảy ra. Ngoài tự nhiên lươn đẻ ở giai đoạn này. 147 Đặc điểm tế bào học Nang trứng nứt, vỡ ra các noãn bào rơi vào xoang buồng trứng. Các mạch máu xung huyết và căng phồng. Bên cạnh những tế bào trứng giai đoạn V còn có nhiều tế bào trứng ở các giai đoạn III, IV và cả giai đoạn II, điều đó chứng tỏ rằng lươn đồng là loài đẻ nhiều lần trong vụ sinh sản. Giai đoạn VI Hình dạng ngoài của tuyến sinh dục Buồng trứng sau khi đẻ xong teo lại, nhão, có màu hồng do sự chảy máu lúc vỡ nang trứng. Màng buồng trứng dày lên. Đặc điểm tế bào học Đặc trưng của giai đoạn này là sự có mặt của nang trứng vỡ, xoang buồng trứng rỗng. Thành phần của tế bào trứng gồm các giai đoạn II, III tiếp tục phát triển cho lần đẻ tiếp theo, điều này chứng tỏ lươn đồng là loài đẻ nhiều lần trong năm. Đặc điểm lưỡng tính của lươn đồng Xem 20 tiêu bản dưới kính hiển vi với độ phóng đại khác nhau, chúng tôi phát hiện có 4 tiêu bản có hiện tượng lưỡng tính. Ở độ phóng đại 40 lần, chúng tôi thấy những tế bào trứng nằm xen kẽ với những tinh trùng. Giai đoạn phát triển của trứng và tinh trùng tương đối giống nhau. Trên tiêu bản tế bào trứng ở giai đoạn I và II, nằm xen kẽ với các tế bào sinh dục đực giai đoạn một. Từ kết quả trên chúng tôi có một số nhận định như sau - Sự phát triển của quần thể lươn Monopterus albus đi theo hai hướng Hướng thứ nhất là giữ nguyên giới tính từ lúc mới nở cho đến lúc già chết, hướng thứ hai Khi đến một kích cỡ nhất định dưới tác dụng của nhiều nhân tố tự nhiên và nội tại, một số cá thể trong chủng quần đã đổi thành con đực chức phận để thực hiện chức năng tham gia vào quá trình sinh sản. Nhưng trước khi chuyển giới tính chúng phải trải qua một giai đoạn trung gian đó là giai đoạn lưỡng tính. Vì vậy, đây cũng chính là giai đoạn để căn cứ vào đó xác định loài cá đang nghiên cứu là đơn tính hay lưỡng tính. - Cá thể được chúng tôi phát hiện có kích thước 35,5cm, kết hợp với kết quả bảng 1, trong nhóm kích thước 27-53,9 tỷ lệ lưỡng tính chiếm 31,08%, do đó đây rất có thể là kích cỡ chuyển tính của cá. Nhưng với số lượng mẫu nhỏ, chúng tôi chưa thể khẳng định điều đó là chính xác, chúng tôi chỉ nêu lên những nhận xét để tạo hướng nghiên cứu tiếp theo sau này. 148 Hình 7 Hình 8 Hình 7 Mặt cắt ngang tiêu bản tuyến sinh dục lưỡng tính với độ phóng đại 40 lần Hình 8 Mặt cắt dọc tiêu bản tuyến sinh dục lưỡng tính với độ phóng đại 40 lần Các giai đoạn phát triển của tinh sào Giai đoạn I Trong giai đoạn này tinh sào chưa phát triển. Tuyến sinh dục đực lúc này là hai sợi chỉ trong suốt, thường chưa phân biệt được đực, cái. Các mạch máu chưa phát triển nên tinh sào không có màu. Giai đoạn II Hình 9 Tinh sào giai đoạn I và II Hình 10 Tinh sào giai đoạn III Đặc trưng giai đoạn II là sự tồn tại các tế bào sinh dục ở thời kỳ đầu của quá trình tạo tinh trùng, tức là tinh nguyên bào đang trong trạng thái sinh sản. Nhờ sự sinh sản của các tế bào này nên tinh sào tăng về mặt kích thước. Tinh sào dần dần đục hơn, tuyến sinh dục lúc này có dạng một băng dẹt mỏng. Đây là giai đoạn lớn, các tế bào sinh dục giai đoạn này được gọi là tinh bào bậc một. Dưới kính hiển vi có thể thấy các tế bào này tăng kích thước chút ít. Các mạch máu và mô liên kết chưa phát triển. Giai đoạn III Giai đoạn này đặc trưng bởi sự chuyển biến mạnh mẽ tất cả các giai đoạn của quá trình tạo tinh trùng. Lúc này, ngoài tinh nguyên bào còn có cá tinh trùng bậc I, II và các tiền tinh trùng. Khối lượng tinh sào tăng nhanh, màu của tuyến sinh dục lúc này hơi hồng do các mạch máu phát triển mạnh. Các nhánh của ống dẫn tinh hẹp, tinh sào rất chắc và có tính đàn hồi. Cuối giai đoạn này xuất hiện các nhóm tinh trùng đã chín. 149 Giai đoạn IV Tinh sào giai đoạn IV có kích thước lớn nhất, trải dài theo 2 bên ống ruột, có màu trắng đục hơi hồng. Giai đoạn này đặc trưng bằng sự kết thúc quá trình tạo tinh trùng. Trong các ống dẫn tinh chứa đầy tinh trùng đã chín đang thoát ra khỏi tinh nang nằm tự do trong khoang của các ống dẫn tinh và di chuyển dần về ống dẫn chung. Trong giai đoạn này nếu dùng tay vuốt có thể thấy những giọt tinh đặc màu trắng sữa chảy ra. Hình 11 Tinh sào giai đoạn IV Hình 12 Tinh sào giai đoạn V Giai đoạn V Giai đoạn này đặc trưng cho trạng thái sinh sản của lươn, tức là sự chảy sẹ. Nếu như đè nhẹ lên bụng lươn, hoặc uốn cong thân thì từ lỗ sinh dục tinh trùng sẽ chảy ra có dạng loãng hơn giai đoạn IV. Giai đoạn VI Giai đoạn này đặc trưng cho trạng thái sau khi đẻ, tinh trùng trong các ống dẫn đã chảy hết, kích thước tinh sào giảm, xẹp xuống và có dạng một sợi dây mềm. Nếu mổ hoặc đè lên bụng thấy một ít chất lỏng màu vàng chảy ra. Sau giai đoạn VI, trong tinh sào lại bắt đầu thời kỳ sinh sản của các tinh nguyên bào, một đợt tinh trùng mới, tinh sào chuyển sang giai đoạn phát dục II. 4 Kết luận - Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đực/lưỡng tính/cái là 37,03% 18,53% 44,44%. - Tháng bắt đầu tham gia sinh sản của lươn đồng là tháng 4, lươn có khả năng sinh sản sớm hơn vào cuối tháng 3 nếu gặp điều kiện thuận lợi. - Lươn đồng là loài đẻ nhiều lần trong năm. - Lươn đồng có sức sinh sản tuyệt đối cao nhất ở nhóm có chiều dài từ 54-70cm là 638,67 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối dao động trung bình là 3,54-7,89 trứng/gam trọng lượng cơ thể. - Lươn đồng là loài lưỡng tính. 150 Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Tường Anh, 1999, “Nội tiết sinh sản cá”, Nhà xuất bản nông nghiêp Hà Nội. 2. Nguyễn Chung, 2007, “Kỹ thuật sinh sản, nuôi và đánh bắt lươn đồng”, Nhà xuất bản Nông nghiệp. 3. Việt Chương- Ks Nguyễn Việt Thái, 2005, “Phương pháp nuôi lươn”, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Lê Văn Dân, 2001, Bài giảng “Kỹ thuật sản xuất giống cá nước ngọt”, Đại học Nông lâm – Đại học Huế. 5. Bùi Lai, Vũ Trung Tạng, Trần Mai Thiên, Mai Đình Yên, 1989, “Ngư loại học”, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp. 6. Ngô Trọng Lư - Lê Đăng Khuyến, 2000, “Kỹ thuật nuôi cá trê, lươn, giun đất ”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. 7. Pravdin, 1973, “Hướng dẫn nghiên cứu cá” , Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Nông thôn Hà Nội. Nguyễn Thị Minh Giang dịch. 8. OFXAKUN và 1982, “Xác định các giai đoạn phát dục và nghiên cứu chu kỳ sinh dục của cá ”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. Người dịch Lê Thanh Lựu. 9. Mai Đình Yên, 1978, “Phân loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật. 10. Arkhipchuk, 1999, Chromosome database. Database of Dr. Victor Arkhipchuk. 151 THE RESEARCH ON SOME CHARACTERISTICS OF REPRODUCTIVE BIOLOGY OF EEL Monopterus Zuiew Albus, 1793 IN THUA THIEN HUE Vo Duc Nghia1*, Le Thi Thu An1, Tran Vinh Phuong2 1University of Agriculture and Forestry - Hue University 2Center for Incubation and Technology Transfer - Hue University Abtract. The research results of reproductive biology characteristics of eel showed that the sex ratio male/bisexual/female in natural population of eel was 44 .44%. The peak spawning month is in April, but the eel also has earlier fertility in the end of March if they meet favourable condition. Eel is a species that spawns several times in a year. The eel group with the body length of 54-70cm has the highest absolute fecundity of 638,67 eggs/individual. The Relative Fecundity was fluctuated from to eggs/g body weight. The results from these specimens also showed that eel was hermaphrodite species. Keywords Biological characteristics, eel, bisexual, sex ratio, fecundity. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this Nguyễn TườngNguyễn Tường Anh, 1999, "Nội tiết sinh sản cá", Nhà xuất bản nông nghiêp Hà thuật sinh sản, nuôi và đánh bắt lươn đồngNguyễn ChungNguyễn Chung, 2007, "Kỹ thuật sinh sản, nuôi và đánh bắt lươn đồng", Nhà xuất bản Nông thuật sản xuất giống cá nước ngọtLê Văn DânLê Văn Dân, 2001, Bài giảng "Kỹ thuật sản xuất giống cá nước ngọt", Đại học Nông lâm -Đại học 1973, "Hướng dẫn nghiên cứu cá", Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Nông thôn Hà Nội. Nguyễn Thị Minh Giang định các giai đoạn phát dục và nghiên cứu chu kỳ sinh dục của cáN A OfxakunBuskaiaOFXAKUN và 1982, "Xác định các giai đoạn phát dục và nghiên cứu chu kỳ sinh dục của cá ", Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. Người dịch Lê Thanh loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt NamYên Mai ĐìnhMai Đình Yên, 1978, "Phân loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam", Nhà xuất bản Khoa học kỹ database. Database of DrV V ArkhipchukArkhipchuk, 1999, Chromosome database. Database of Dr. Victor Arkhipchuk. Ýnghĩa phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ mạng của sinh vật. Còn kéo dài được bao lâu thì chúng ta phải có trách nhiệm khảo sát, nghiên cứu như muốn thả chim thì phải nghiên cứu xem thả loài chim gì, thả ở đâu, thả vào lúc nào mới an toàn, có kết quả. Ý nghĩa của việc phóng sanhPhóng sinh bắt nguồn từ kinh Phật Đại Thừa, thịnh hành ở Trung Hoa, Tây Tạng, truyền sang Nhật Bản và các nước láng giềng Triều Tiên, Việt Nam. Hoạt động phóng sinh dựa trên tinh thần từ bi và bình đẳng giữa chúng sinh, và quan niệm nhân quả của sinh tử luân hồi. Nếu vừa giữ giới sát, lại vừa phóng sinh thì công đức gấp bội. Những tỷ dụ kinh nghiệm cảm ứng về phóng sinh, sách sử nói đến rất nhiều. Trong kinh "Tạp bảo tạng" quyển 4 có ghi chép sư phụ của một Sa di biết Sa di này sẽ chết trong vòng 7 ngày, nên cho phép anh ta về thăm nhà, 7 ngày sau sẽ trở lại, nhưng không giải thích rõ lý do. Anh ta lên đường về nhà, thấy nước trong một cái ao thoát ra một khe hở, đe dọa một ổ kiến ở bờ ao. Bầy kiến nháo nhác chạy trốn nhưng không kịp với tốc độ nước tháo ra. Anh Sa di thấy vô số con kiến ắt phải chết đuối bèn lấy áo cà sa của mình bồi đất vào để đắp lỗ hổng ở bờ ao, cứu thoát bầy kiến. Sa di về thăm nhà 7 ngày, rồi trở lại ra mắt sư phụ. Sư phụ thấy Sa di kinh ngạc vô cùng, hỏi anh ta mấy ngày qua có xảy ra chuyện gì đặc biệt không. Tưởng rằng sư phụ nói mình phạm giới, làm việc bậy bạ nên lo sợ nói rằng không làm việc gì sai trái. Sư phụ là A la hán dùng thiên nhãn biết rõ là anh Sa di này đã làm một việc thiện nhỏ là cứu sống một bầy kiến, nhờ vậy mà khỏi phải chết yểu, được sống cho đến già. Các tín đồ Phật giáo đều biết rõ căn cứ của phóng sinh. Có hai bộ kinh. Một là "Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới", trong đó có nói "Mọi người hãy lấy từ tâm mà phóng sinh, vì tất cả đàn ông là cha của mình, tất cả đàn bà là mẹ của mình, mình chính là từ ở đó mà sinh ra. Vì vậy chúng sinh trong sáu cõi đều là cha mẹ ta, giết họ mà ăn là giết cha mẹ, và giết cả bản thân mình nữa. Tất cả đất và nước là thân trước của ta, tất cả lửa và gió đều là bản thể của ta, cho nên thường làm việc phóng sinh, đời đời thọ sinh. Nếu người đời khi thấy việc giết hại súc vật thì nên cứu chúng thoát khỏi khổ nạn, thường giáo hóa nói về giới Bồ Tát, cứu độ chúng sinh". Bộ kinh thứ hai là "Kinh Kim Quang Minh" quyển 4 phẩm con ông trưởng giả Lưu Thủy kể lại chuyện ngày trước Phật Thích Ca tu hạnh Bồ Tát. Thời ấy Phật Thích Ca làm con ông trưởng giả Lưu Thủy. Một lần Người đi qua một cái hồ lớn. Trời đại hạn. Có người đắp đập trên thượng nguồn để bắt cá, làm cho mức nước hồ thấp xuống, hàng vạn cá lớn, cá bé có nguy cơ bị chết. Con trưởng giả muốn cứu bầy cá, nhưng không thể lên tận nguồn để phá đập chắn, bèn tâu với quốc vương phái đến 20 con voi lớn, chở nước tới, đổ đầy hồ, cứu sống đàn cá. Kinh "Phạm Võng" là chỗ dựa lý luận của phóng sinh. "Kim Quang Minh" là chỗ dựa để xây ao phóng sinh. Các bộ kinh Đại Thừa khác như "Lục độ tập kinh" quyển 3, ghi chép việc mua rùa để phóng sinh. Cuốn "Đại Đường Tây Vực Ký" của Huyền Trang cuốn 9 kể chuyện Tháp Nhạn. Ở nước Magadha thuộc Trung Ấn Độ có một ngôi chùa Tiểu Thừa, do một vị Tỳ kheo tu không giữ giới ăn ba loại thịt thanh tịnh là các loại thịt không thấy giết, không nghe giết, không vì mình mà giết. Có một ngày, một Tỳ kheo không có thịt ăn, chính lúc đó ở trên trời có một bầy nhạn bay qua, Tỳ kheo bèn nói với đàn nhạn "Hôm nay, có vị Tăng không có thịt ăn, vì không ai cúng dường. Các vị Đại Bồ Tát biết là thời cơ đã đến rồi". Bầy nhạn nghe thấy như vậy, đều sa xuống mà chết. Vị Tỳ kheo ấy vốn không tin Đại Thừa, không tin chim nhạn có thể là Bồ Tát, nên nói ra câu trên để chế diễu Đại Thừa. Không ngờ chính các Bồ Tát đã hiển hiện làm nhạn để giác ngộ cho anh. Các Tỳ kheo Tiểu Thừa trong chùa lấy làm xấu hổ và bảo nhau "Đây là các vị Bồ Tát, ai mà dám ăn". Từ nay về sau phải dựa vào Đại Thừa, chúng ta sẽ không ăn ba loại thịt thanh tịnh. Rồi xây tháp thờ chim nhạn. Có thể thấy phóng sinh có gốc rễ ở giới sát. Cũng có thể nói phát triển giới sát thêm một bước, thành ra phóng sinh. Giới sát chỉ là ngăn không làm ác, là hành vi thiện thụ động. Phóng sinh cứu mạng là hành vi thiện tích cực. Nếu chỉ ngăn ác, mà không hành thiện thì không phải là tinh thần của Phật pháp Đại Thừa. Vì vậy mà Trung Quốc, từ thời Bắc Tề Lương đến nay, có phong trào không ăn thịt không sát sinh. Phong tục phóng sinh cũng từ đó được phát triển dần dần từ triều đình đến dân thường, từ chúng Tăng đến người trần tục đều coi trọng ăn chay. Chính phủ Dân quốc hiện nay cũng định kỳ cấm giết hại súc vật một số ngày trong năm, từ trung ương đến địa phương để cầu mưa, xua đuổi tai họa, người ta cũng tổ chức phóng sinh và cấm giết hại súc vật. Võ Đế nhà Lương xuống chiếu cấm sát sinh để cúng tế. Tỳ kheo Tuệ Tập đời nhà Lương, nguyện tự đốt hai cánh tay, đi khắp nơi khuyên phóng sinh. Đời Tùy, đại sư Trí Khải phát động phong trào xây ao phóng sinh, giảng các kinh "Kim Quang Minh" và "Pháp Hoa" để tuyên truyền xin bỏ tiền mua lương thực để nuôi cá. Đời Trần Tuyên Đế, Vua sai quan Tế Tửu Từ, Khắc Hiếu viết "Bài Bia về việc thiền sư Trí Khải" tu ở chùa Thiền núi Thiên Thai tổ chức phóng sinh. Điều đó mở đầu cho việc ghi chép các hội phóng sinh và các ao phóng sinh ở Trung Quốc. Từ đó về sau từ đời nhà Đường, nhà Tống đến nhà Minh, đời nào cũng có phát triển việc phóng sinh. Đời vua Đường Túc Tôn, có viết bài bia về ao phóng sinh. Đến đời Tống, hai đại sư Tuân Thức và Tri Lễ cũng ra sức tán thán việc phóng sinh. Cuối đời nhà Minh có đại sư Liên Trì là một trong những cao tăng rất tích cực tuyên truyền việc phóng sinh. Đại sư viết các bài "Như Lai không cứu nghiệp sát", "Ăn thịt", "Ăn chay" in trong tập "Trúc song tùy bút", lại viết các thiên thư như "Mặc áo lụa ăn thịt", "Giữ giới sát được sống thọ", "Ao phóng sinh", "Thầy thuốc giới sát sinh", "Vì bệnh ăn thịt". Trong tập "Trúc song tùy bút", lại có các bài "Sát sinh là tội ác lớn trong đời người", "Làm người không nên sát sinh", "Làm người không nên ăn thịt chúng sinh để khuyến khích giới sát và phóng sinh". Ngoài các bài viết về "ăn chay", ông còn viết các bài "Nghi thức phóng sinh", "Giới sát phóng sinh", để bày vẽ các nghi thức phóng sinh cho mọi người. Thời hiện đại có sách của đại sư Hoàng Nhất, các tập tranh về "Bảo vệ cuộc sống" của Phong Tử Khái "6 cuốn". Ngoài ra còn có Cư sĩ Thái Niệm Sanh đề xướng việc giới sát phóng sinh biên tập những câu chuyện về chủ đề "Động vật cũng có linh tính và cảm ứng" thành sách với nhan đề "Động vật còn như vậy". Nhưng trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiến bộ, mật độ nhân khẩu tăng nhanh, không gian sống bị thu nhỏ lại, muốn có một ao phóng sinh, một khu vực phóng sinh tuyệt đối an toàn là tương đối khó khăn. Ở nước Mỹ và Đài Loan hiện nay có các khu vực bảo vệ dã thú. Ngoài ra cũng có người do lòng thương yêu loài vật và muốn bảo vệ thiên nhiên đã khuyến khích dân chúng không nên giết, bắt bừa bãi, tránh phá hoại sự điều hòa phối hợp tự nhiên của sinh vật, tránh nguy cơ diệt chủng đối với loài động vật hiếm. Điều này phù hợp nhưng không hoàn toàn tương đồng với tinh thần phóng sinh của đạo Phật. Nếu chúng ta thả tất cả động vật được phóng sinh vào các khu bảo vệ động vật… thì sẽ có nguy cơ bão hòa, số động vật tăng nhan tới mức phải hạn chế. Do đó, chúng ta đến đâu để phóng sinh ? Nếu là cá thì có người câu hay thả lưới, nếu là chim, thì có người dùng súng bắn, hay dùng lưới vây bắt. Ở các chợ bán chim, bán cá ngày nay, thường không phải là động vật hoang dã, mà đại bộ phận là do người ở các ao cá, vườn chim. Những động vật này căn bản không thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên, phóng sinh chúng cũng như sát sinh. Phóng sinh loài nhỏ, chúng sẽ bị những loài lớn ăn thịt. Phóng sinh loài lớn, chúng sẽ bị săn bắn đưa vào bếp các quán ăn. Hơn nữa, giống chim, loài cá đều có thói quen của chúng. Có những loài cá nhất định phải sống trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu, độ chảy, mua giống cá sông thả vào biển hay mua và thả cá biển vào sông đều thành vấn đề. Loại chim nuôi ở công viên, không quen săn mồi trong hoàn cảnh tự nhiên không biết rau quả nào trong rừng có thể dùng làm thức ăn. Nếu thả chúng vào rừng sẽ bị đói hoặc bị các động vật khác hoặc các loài chim ăn thịt. Trong tình hình như vậy, có cần phóng sinh hay không, có nên phóng sinh hay không ? Điều này rõ ràng là một sự thực không may mắn. Sự hạn chế của hoàn cảnh tự nhiên làm cho cuộc vận động phóng sinh ngày càng khó khăn. Thực ra, ý nghĩa phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ mạng của sinh vật. Còn kéo dài được bao lâu thì chúng ta phải có trách nhiệm khảo sát, nghiên cứu như muốn thả chim thì phải nghiên cứu xem thả loài chim gì, thả ở đâu, thả vào lúc nào mới an toàn, có kết quả. Đối với loài cá, tôm, cua cũng phải như vậy. Trước hết phải nghiên cứu tập quán sinh thái, nguồn gốc của chúng, rồi chọn thời cơ thích đáng nhất để thả chúng ở những nơi an toàn thích hợp nhất. Nhưng nếu không may, hôm nay chúng được thả, sang ngày hôm sau chúng bị bắt thì cũng đành chịu vậy. Mục đích của chúng ta là phát động lòng từ bi, tinh thần cứu tế của người phóng sinh. Còn số phận của động vật được phóng sinh ra sao, thì còn tùy thuộc vào nhân quả họa phúc và nhân duyên của chúng nữa. Miễn là khi phóng sinh chúng ta thành tâm cầu cho chúng được thoát nạn. Hãy vì chúng mà nói Tam Quy, nói Phật pháp, phát nguyện hồi hướng. Chúng có thể nhờ đó mà thoát ly được các thân khác loài, chuyển tái sinh làm người, sinh lên cõi trời, vãng sinh tịnh độ, phát tâm Bồ đề, độ thoát chúng sinh sớm thành Phật đạo. Trong việc phóng sinh, chúng ta chỉ cần tận tâm, tận lực mà làm. Như vậy là thượng Thích Thánh Nghiêm.******************************************Phóng sinh là tốt nhưng phải biết cách Vào những dịp Tết, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy hay những dịp cầu nguyện cho bản thân hay gia quyến, người ta hay tổ chức phóng sinh chim, cá. Phóng sinh là một việc làm thể hiện lòng Từ bi bình đẳng, mục đích phóng sinh là để đánh thức tâm Bồ đề của chúng sinh con vật trước khi phóng sinh. Phóng sinh là thể hiện lòng từ bị của người con Phật, tâm không mong cầu lợi ích cho riêng bản thân mình nhưng phước báu lại to lớn vô cùng. Tuy nhiên, việc làm tốt đẹp này đang ngày càng mất đi nét đẹp. Thả chim phóng sinh là một việc thiện và dễ làm, nhưng chính hành động đó đã tiếp tay cho đội quân chuyên đi săn lùng bắt các loại chim vào những dịp lễ, vô tình tiếp tay cho những người đi đánh bắt gây thêm nghiệp sát. Để có được một con đến tay người thả, ắt sẽ có nhiều con bị chết vì mệt mỏi, bệnh tật. Việc phóng sinh không đúng cách còn có thể gây những tác động không tốt đối với môi trường sống trong vùng. Vậy, chúng ta phóng sinh thế nào cho đúng? Phóng sinh là khi gặp một con vật bị nạn, mình ra tay cứu thoát, hoặc nhìn thấy một hoặc nhiều con vật sắp bị giết, mình bỏ tiền ra mua để cứu sống chúng. Người học Phật tăng trưởng lòng từ bi là điều rất cần thiết nhưng từ bi phải có trí tuệ. Ở góc độ tương đối, khi thực hiện phóng sinh, chúng ta có thể hành theo ý nghĩa sau - Phóng sinh phải phát xuất từ lòng từ bi, không vì ý nghĩa tư lợi như cầu sống thọ, cầu may mắn, giải trừ tật bệnh,…. Vì nếu không như vậy, việc phóng sinh tuy có tốt, nhưng hiệu quả lại rất hạn chế. Tâm từ bi không khởi sinh, còn nói gì đến chuyện nuôi dưỡng! - Phóng sinh bằng cái tâm chứ đừng theo phong trào, làm việc bằng chánh kiến chứ không chạy theo số đông. - Phóng sinh là tự do, không phân lượng lớn nhỏ, ít nhiều, không chọn ngày giờ tốt xấu, không nên chờ dịp này hay dịp khác,…. Vì các loại lươn, cá, ốc, thú rừng,… bị săn bắt phục vụ cho người ăn thịt lúc nào, ngày nào cũng có; mà thời lượng nào thì sự nguy cấp cũng đều như nhau. Nên khi ta phát tâm từ bi thì liền thực hiện - tùy vào khả năng từ một, hai con đến muôn ngàn con cũng phải lập tức cứu thoát chúng – càng nhanh càng tốt, mà chẳng cầu được ai biết đến. - Khi phóng sinh cần thực hiện âm thầm, chọn nơi vắng vẻ càng tốt, vì pháp sự này không nên kích thích lòng tham của những người săn bắt, tạo thêm nghiệp chướng cho họ mà chính chúng ta cũng bị giảm phần công đức. - Phóng sinh là cơ hội để con vật có điều kiện quy y Tam Bảo và sám hối nghiệp chướng, việc làm tốt trong Đạo Phật, thể hiện lòng Đại từ Đại bi nên trong nghi thức phóng sinh có lễ quy y, sám hối cho con vật trước khi phóng sinh. Nhưng chúng ta cũng không nên quá chấp vào hình thức, tiến hành những nghi lễ rườm rà, câu nệ. Khi phóng sinh, thao tác phải nhanh nhẹn, rốt ráo; nghi lễ ngắn gọn nhưng đủ sức tế độ; không nên nặng phần hình thức, tránh cho các sinh vật phải chịu kéo dài nỗi khổ sợ hãi, ngột ngạt, tù túng vì bị giam cầm; có khi chúng phải mất mạng trước khi được ta phóng Phật pháp ứng dụng Thứ ba, 26/02/2021 0734 Phóng sinh vào dịp Tết, Rằm tháng Giêng hay Rằm tháng bảy,... đã trở thành một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của người Việt. Tuy nhiên ý nghĩa cũng như phóng sinh sao cho lợi ích thì không phải ai cũng biết. Phóng sinh là gì? Đại đức Thích Trúc Thái Minh từng chia sẻ “Phóng sinh, cứu vật là việc chúng ta nên làm, nhất là đối với những người Phật tử”. Và theo quan điểm của đạo Phật, phóng sinh là khi mình nhìn thấy các loài chúng sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại thì phát sinh lòng thương xót, tìm cách cứu chuộc, giải thoát, phóng thích, cứu mạng sống của chúng. Phóng sinh, cứu vật là việc chúng ta nên làm, nhất là đối với những người Phật tử. Rằm tháng Giêng cúng phóng sinh như thế nào để tạo phúc? Ý nghĩa của việc phóng sinh 1. Tăng trưởng phước báu và nuôi dưỡng tâm từ bi Đức Phật có dạy, đã là người đệ tử Phật, không kể xuất gia hay tại gia thì đều phải tu tập lòng từ. Trong đó phóng sinh là việc làm rất căn bản để tâm từ được nuôi dưỡng và tăng trưởng. Đại đức Thích Trúc Thái Minh chia sẻ “Khi thấy người, con vật bị nạn hoặc sắp bị giết, chúng ta tìm cách cứu thì sẽ được phước báu rất lớn. Việc làm này cũng giúp tâm từ bi của chúng ta được nuôi dưỡng và tăng trưởng. Mà tâm từ bi là hạt nhân để thành Phật sau này. Không thể thành một vị Phật mà lại không có tâm từ. Cho nên, ý nghĩa đầu tiên của việc phóng sinh là chúng ta nuôi dưỡng tâm từ”. 2. Đem sự an vui đến cho tất cả các loài Người có tâm từ thì đi đâu cũng đem an lạc, bình an đến đó và tâm từ còn cảm ứng được cả trời đất. Do vậy, tâm từ rất quan trọng. Có thể những con vật được phóng sinh chưa hẳn được sống lâu dài, nhưng khi chúng ta phóng sinh là đã thể hiện tâm từ của chúng ta. Chúng ta hiểu rằng cứu các sinh mạng về môi trường sống tự nhiên thì tâm từ bi cũng như phước báu của chúng ta được tăng trưởng. Trong kinh Phật dạy khi chúng ta tu lòng từ, không sát sinh, trái lại còn phóng sinh thì được rất nhiều lợi ích. Đó là chúng ta sẽ được phúc báu như ít bệnh tật, có sức khỏe, có tuổi thọ được lâu dài, thường an ổn,... Nếu ai cũng có tình yêu thương, không những với loài người mà với cả muôn loài, thế giới này sẽ rất hòa bình và an lạc. Phóng sinh là khi mình nhìn thấy các loài chúng sinh có mạng sống đang bị bắt nhốt, giam cầm, sắp sửa bị giết hại thì phát sinh lòng thương xót, tìm cách cứu chuộc, giải thoát, phóng thích, cứu mạng sống của chúng. Tìm về tinh hoa nguồn cội và tinh thần hiếu sinh qua lễ phóng sinh Phóng sinh thế nào để được lợi ích? Phóng sinh là việc làm đúng theo lời Phật dạy, vậy để mang lại lợi ích thiết thực cho mình và cho loài vật được phóng sinh thì chúng ta nên làm như thế nào? 1. Phát khởi tâm từ Để việc phóng sinh mang lại lợi ích cho mình và đúng với tinh thần của đạo Phật, điều đầu tiên chúng ta phải phát khởi được tâm từ. Có thể ta nghèo khó nhưng nếu ta phóng sinh dù chỉ một con cá, hay một con cua, hay bất cứ một con vật nào với tất cả tâm ý của mình thì cũng được lợi ích. Vì tâm từ đó nâng đỡ chúng ta rất nhiều. Về công đức phước báu của tâm từ, Đại đức Thích Trúc Thái Minh chia sẻ một câu chuyện trong nhà Phật. Câu chuyện kể về người mẹ bệnh tật có con bị rơi xuống sông. Bà mẹ đã nhảy xuống, ôm chặt con với mong muốn vớt con lên nhưng không được. Cuối cùng, hai mẹ con đều chết. Cũng bởi tâm từ yêu thương con như vậy nên sau khi chết, bà mẹ được sinh lên cõi Trời. Đó là do công đức phước báu của tâm từ. Từ câu chuyện trên, Đại đức Thích Trúc Thái Minh cũng lưu ý “Chúng ta phải nuôi dưỡng được tâm từ, phải có tâm từ bi với con vật mà mình phóng sinh, chứ không phải phóng sinh lấy lệ, phóng sinh cho có hình thức, hay là nghe người ta bảo thì cũng đi phóng sinh. Phóng sinh như vậy thì công đức được ít, không được nhiều”. Phóng sinh là việc làm đúng theo lời Phật dạy. Phóng sinh để được phước báu 2. Không nên đặt mua trước các con vật để đi phóng sinh Phật tử không nên đặt mua trước các con vật để phóng sinh. Vì làm như vậy sẽ làm mất ý nghĩa của phóng sinh. Vì phóng sinh là chúng ta thấy con vật đang mắc nặn, đang sắp bị giết hại nên chúng ta mua, rồi phóng sinh chúng. Trường hợp có những người ác tâm, sẵn sàng đi theo các đoàn phóng sinh để đánh bắt lại những con vật ấy. Đó là việc làm ác, những người đó là làm việc ác và phải chịu quả báo. 3. Không cầu kỳ hương khói Nhiều người quan niệm, trước khi phóng sinh cần phải lễ, tụng niệm thì mới được phước báu. Vậy nếu không lễ, niệm thì phóng sinh có được công đức gì không? Chúng ta khi phóng sinh cũng đơn giản lắm, không cần phải làm cái gì cầu kỳ, không phải có hương phải cắm vào con vật mới phóng sinh được đâu. Cái hương nó không quan trọng gì việc đó. Có nhiều người muốn đi phóng sinh lại chưa biết mua hương ở đâu, thế là cứ đợi đến lúc mình mua hương xong thì con vật nó chết mất rồi. Khi phóng sinh, chúng ta không nhất thiết phải đến chùa để quý Thầy chú nguyện, các Phật tử có thể tự làm được việc này. Các Phật tử có thể đọc “Các chúng sinh đây phát tâm quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng” hoặc niệm danh hiệu Phật “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni” khoảng 10 lần để gieo duyên Phật Pháp cho các con vật đó. Để việc phóng sinh mang lại lợi ích cho mình và đúng với tinh thần của đạo Phật, điều đầu tiên chúng ta phải phát khởi được tâm từ. Thoát chết nhờ phóng sinh trứng cá Đối với nhà Phật là cứu được mạng sống là phước báu và cái việc đó thì nên làm nhanh, làm ngay không phải đợi chờ và không phải vì chúng ta làm ngay không có bài bản là chúng ta không được phúc. Chúng ta đã khởi tâm cứu vật phóng sinh là sẽ được phước báu. Phóng sinh thể hiện nét đẹp từ bi của đạo Phật. Hy vọng rằng thông điệp của việc phóng sinh sẽ được lan tỏa mạnh mẽ, góp phần đánh thức tâm từ bi trong mỗi người. Thứ ba, 07/02/2022 0200 Ý nghĩa phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ mạng của sinh vật. Còn kéo dài được bao lâu thì chúng ta phải có trách nhiệm khảo sát, nghiên cứu như muốn thả chim thì phải nghiên cứu xem thả loài chim gì, thả ở đâu, thả vào lúc nào mới an toàn, có kết quả. Ý nghĩa của việc phóng sinh Phóng sinh bắt nguồn từ kinh Phật Đại Thừa, thịnh hành ở Trung Hoa, Tây Tạng, truyền sang Nhật Bản và các nước láng giềng Triều Tiên, Việt Nam. Hoạt động phóng sinh dựa trên tinh thần từ bi và bình đẳng giữa chúng sinh, và quan niệm nhân quả của sinh tử luân hồi. Nếu vừa giữ giới sát, lại vừa phóng sinh thì công đức gấp bội. Những tỷ dụ kinh nghiệm cảm ứng về phóng sinh, sách sử nói đến rất nhiều. Trong kinh "Tạp bảo tạng" quyển 4 có ghi chép sư phụ của một Sa di biết Sa di này sẽ chết trong vòng 7 ngày, nên cho phép anh ta về thăm nhà, 7 ngày sau sẽ trở lại, nhưng không giải thích rõ lý do. Anh ta lên đường về nhà, thấy nước trong một cái ao thoát ra một khe hở, đe dọa một ổ kiến ở bờ ao. Bầy kiến nháo nhác chạy trốn nhưng không kịp với tốc độ nước tháo ra. Anh Sa di thấy vô số con kiến ắt phải chết đuối bèn lấy áo cà sa của mình bồi đất vào để đắp lỗ hổng ở bờ ao, cứu thoát bầy kiến. Sa di về thăm nhà 7 ngày, rồi trở lại ra mắt sư phụ. Sư phụ thấy Sa di kinh ngạc vô cùng, hỏi anh ta mấy ngày qua có xảy ra chuyện gì đặc biệt không. Tưởng rằng sư phụ nói mình phạm giới, làm việc bậy bạ nên lo sợ nói rằng không làm việc gì sai trái. Sư phụ là A la hán dùng thiên nhãn biết rõ là anh Sa di này đã làm một việc thiện nhỏ là cứu sống một bầy kiến, nhờ vậy mà khỏi phải chết yểu, được sống cho đến già. Các tín đồ Phật giáo đều biết rõ căn cứ của phóng sinh. Có hai bộ kinh. Một là "Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới", trong đó có nói "Mọi người hãy lấy từ tâm mà phóng sinh, vì tất cả đàn ông là cha của mình, tất cả đàn bà là mẹ của mình, mình chính là từ ở đó mà sinh ra. Vì vậy chúng sinh trong sáu cõi đều là cha mẹ ta, giết họ mà ăn là giết cha mẹ, và giết cả bản thân mình nữa. Tất cả đất và nước là thân trước của ta, tất cả lửa và gió đều là bản thể của ta, cho nên thường làm việc phóng sinh, đời đời thọ sinh. Nếu người đời khi thấy việc giết hại súc vật thì nên cứu chúng thoát khỏi khổ nạn, thường giáo hóa nói về giới Bồ Tát, cứu độ chúng sinh". Bộ kinh thứ hai là "Kinh Kim Quang Minh" quyển 4 phẩm con ông trưởng giả Lưu Thủy kể lại chuyện ngày trước Phật Thích Ca tu hạnh Bồ Tát. Thời ấy Phật Thích Ca làm con ông trưởng giả Lưu Thủy. Một lần Người đi qua một cái hồ lớn. Trời đại hạn. Có người đắp đập trên thượng nguồn để bắt cá, làm cho mức nước hồ thấp xuống, hàng vạn cá lớn, cá bé có nguy cơ bị chết. Con trưởng giả muốn cứu bầy cá, nhưng không thể lên tận nguồn để phá đập chắn, bèn tâu với quốc vương phái đến 20 con voi lớn, chở nước tới, đổ đầy hồ, cứu sống đàn cá. Phóng sinh là tốt nhưng phải biết cách Kinh "Phạm Võng" là chỗ dựa lý luận của phóng sinh. "Kim Quang Minh" là chỗ dựa để xây ao phóng sinh. Các bộ kinh Đại Thừa khác như "Lục độ tập kinh" quyển 3, ghi chép việc mua rùa để phóng sinh. Cuốn "Đại Đường Tây Vực Ký" của Huyền Trang cuốn 9 kể chuyện Tháp Nhạn. Ở nước Magadha thuộc Trung Ấn Độ có một ngôi chùa Tiểu Thừa, do một vị Tỳ kheo tu không giữ giới ăn ba loại thịt thanh tịnh là các loại thịt không thấy giết, không nghe giết, không vì mình mà giết. Có một ngày, một Tỳ kheo không có thịt ăn, chính lúc đó ở trên trời có một bầy nhạn bay qua, Tỳ kheo bèn nói với đàn nhạn "Hôm nay, có vị Tăng không có thịt ăn, vì không ai cúng dường. Các vị Đại Bồ Tát biết là thời cơ đã đến rồi". Bầy nhạn nghe thấy như vậy, đều sa xuống mà chết. Vị Tỳ kheo ấy vốn không tin Đại Thừa, không tin chim nhạn có thể là Bồ Tát, nên nói ra câu trên để chế diễu Đại Thừa. Không ngờ chính các Bồ Tát đã hiển hiện làm nhạn để giác ngộ cho anh. Các Tỳ kheo Tiểu Thừa trong chùa lấy làm xấu hổ và bảo nhau "Đây là các vị Bồ Tát, ai mà dám ăn". Từ nay về sau phải dựa vào Đại Thừa, chúng ta sẽ không ăn ba loại thịt thanh tịnh. Rồi xây tháp thờ chim nhạn. Có thể thấy phóng sinh có gốc rễ ở giới sát. Cũng có thể nói phát triển giới sát thêm một bước, thành ra phóng sinh. Giới sát chỉ là ngăn không làm ác, là hành vi thiện thụ động. Phóng sinh cứu mạng là hành vi thiện tích cực. Nếu chỉ ngăn ác, mà không hành thiện thì không phải là tinh thần của Phật pháp Đại Thừa. Vì vậy mà Trung Quốc, từ thời Bắc Tề Lương đến nay, có phong trào không ăn thịt không sát sinh. Phong tục phóng sinh cũng từ đó được phát triển dần dần từ triều đình đến dân thường, từ chúng Tăng đến người trần tục đều coi trọng ăn chay. Chính phủ Dân quốc hiện nay cũng định kỳ cấm giết hại súc vật một số ngày trong năm, từ trung ương đến địa phương để cầu mưa, xua đuổi tai họa, người ta cũng tổ chức phóng sinh và cấm giết hại súc vật. Võ Đế nhà Lương xuống chiếu cấm sát sinh để cúng tế. Tỳ kheo Tuệ Tập đời nhà Lương, nguyện tự đốt hai cánh tay, đi khắp nơi khuyên phóng sinh. Đời Tùy, đại sư Trí Khải phát động phong trào xây ao phóng sinh, giảng các kinh "Kim Quang Minh" và "Pháp Hoa" để tuyên truyền xin bỏ tiền mua lương thực để nuôi cá. Đời Trần Tuyên Đế, Vua sai quan Tế Tửu Từ, Khắc Hiếu viết "Bài Bia về việc thiền sư Trí Khải" tu ở chùa Thiền núi Thiên Thai tổ chức phóng sinh. Điều đó mở đầu cho việc ghi chép các hội phóng sinh và các ao phóng sinh ở Trung Quốc. Từ đó về sau từ đời nhà Đường, nhà Tống đến nhà Minh, đời nào cũng có phát triển việc phóng sinh. Đời vua Đường Túc Tôn, có viết bài bia về ao phóng sinh. Đến đời Tống, hai đại sư Tuân Thức và Tri Lễ cũng ra sức tán thán việc phóng sinh. Cuối đời nhà Minh có đại sư Liên Trì là một trong những cao tăng rất tích cực tuyên truyền việc phóng sinh. Đại sư viết các bài "Như Lai không cứu nghiệp sát", "Ăn thịt", "Ăn chay" in trong tập "Trúc song tùy bút", lại viết các thiên thư như "Mặc áo lụa ăn thịt", "Giữ giới sát được sống thọ", "Ao phóng sinh", "Thầy thuốc giới sát sinh", "Vì bệnh ăn thịt". Trong tập "Trúc song tùy bút", lại có các bài "Sát sinh là tội ác lớn trong đời người", "Làm người không nên sát sinh", "Làm người không nên ăn thịt chúng sinh để khuyến khích giới sát và phóng sinh". Ngoài các bài viết về "ăn chay", ông còn viết các bài "Nghi thức phóng sinh", "Giới sát phóng sinh", để bày vẽ các nghi thức phóng sinh cho mọi người. Thời hiện đại có sách của đại sư Hoàng Nhất, các tập tranh về "Bảo vệ cuộc sống" của Phong Tử Khái "6 cuốn". Ngoài ra còn có Cư sĩ Thái Niệm Sanh đề xướng việc giới sát phóng sinh biên tập những câu chuyện về chủ đề "Động vật cũng có linh tính và cảm ứng" thành sách với nhan đề "Động vật còn như vậy". Nhưng trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật tiến bộ, mật độ nhân khẩu tăng nhanh, không gian sống bị thu nhỏ lại, muốn có một ao phóng sinh, một khu vực phóng sinh tuyệt đối an toàn là tương đối khó khăn. Ở nước Mỹ và Đài Loan hiện nay có các khu vực bảo vệ dã thú. Ngoài ra cũng có người do lòng thương yêu loài vật và muốn bảo vệ thiên nhiên đã khuyến khích dân chúng không nên giết, bắt bừa bãi, tránh phá hoại sự điều hòa phối hợp tự nhiên của sinh vật, tránh nguy cơ diệt chủng đối với loài động vật hiếm. Điều này phù hợp nhưng không hoàn toàn tương đồng với tinh thần phóng sinh của đạo Phật. Nếu chúng ta thả tất cả động vật được phóng sinh vào các khu bảo vệ động vật… thì sẽ có nguy cơ bão hòa, số động vật tăng nhan tới mức phải hạn chế. Ý nghĩa phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ mạng của sinh vật. Do đó, chúng ta đến đâu để phóng sinh ? Nếu là cá thì có người câu hay thả lưới, nếu là chim, thì có người dùng súng bắn, hay dùng lưới vây bắt. Ở các chợ bán chim, bán cá ngày nay, thường không phải là động vật hoang dã, mà đại bộ phận là do người ở các ao cá, vườn chim. Những động vật này căn bản không thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên, phóng sinh chúng cũng như sát sinh. Phóng sinh loài nhỏ, chúng sẽ bị những loài lớn ăn thịt. Phóng sinh loài lớn, chúng sẽ bị săn bắn đưa vào bếp các quán ăn. Hơn nữa, giống chim, loài cá đều có thói quen của chúng. Có những loài cá nhất định phải sống trong những hoàn cảnh nhất định như chất nước, độ sâu, độ chảy, mua giống cá sông thả vào biển hay mua và thả cá biển vào sông đều thành vấn đề. Loại chim nuôi ở công viên, không quen săn mồi trong hoàn cảnh tự nhiên không biết rau quả nào trong rừng có thể dùng làm thức ăn. Nếu thả chúng vào rừng sẽ bị đói hoặc bị các động vật khác hoặc các loài chim ăn thịt. Trong tình hình như vậy, có cần phóng sinh hay không, có nên phóng sinh hay không ? Điều này rõ ràng là một sự thực không may mắn. Sự hạn chế của hoàn cảnh tự nhiên làm cho cuộc vận động phóng sinh ngày càng khó khăn. Thực ra, ý nghĩa phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ mạng của sinh vật. Còn kéo dài được bao lâu thì chúng ta phải có trách nhiệm khảo sát, nghiên cứu như muốn thả chim thì phải nghiên cứu xem thả loài chim gì, thả ở đâu, thả vào lúc nào mới an toàn, có kết quả. Đối với loài cá, tôm, cua cũng phải như vậy. Trước hết phải nghiên cứu tập quán sinh thái, nguồn gốc của chúng, rồi chọn thời cơ thích đáng nhất để thả chúng ở những nơi an toàn thích hợp nhất. Nhưng nếu không may, hôm nay chúng được thả, sang ngày hôm sau chúng bị bắt thì cũng đành chịu vậy. Mục đích của chúng ta là phát động lòng từ bi, tinh thần cứu tế của người phóng sinh. Còn số phận của động vật được phóng sinh ra sao, thì còn tùy thuộc vào nhân quả họa phúc và nhân duyên của chúng nữa. Miễn là khi phóng sinh chúng ta thành tâm cầu cho chúng được thoát nạn. Hãy vì chúng mà nói Tam Quy, nói Phật pháp, phát nguyện hồi hướng. Chúng có thể nhờ đó mà thoát ly được các thân khác loài, chuyển tái sinh làm người, sinh lên cõi trời, vãng sinh tịnh độ, phát tâm Bồ đề, độ thoát chúng sinh sớm thành Phật đạo. Trong việc phóng sinh, chúng ta chỉ cần tận tâm, tận lực mà làm. Như vậy là tốt. Phóng sinh là tốt nhưng phải biết cách Vào những dịp Tết, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy hay những dịp cầu nguyện cho bản thân hay gia quyến, người ta hay tổ chức phóng sinh chim, cá. Phóng sinh là một việc làm thể hiện lòng Từ bi bình đẳng, mục đích phóng sinh là để đánh thức tâm Bồ đề của chúng sinh con vật trước khi phóng sinh. Phóng sinh là thể hiện lòng từ bị của người con Phật, tâm không mong cầu lợi ích cho riêng bản thân mình nhưng phước báu lại to lớn vô cùng. Tuy nhiên, việc làm tốt đẹp này đang ngày càng mất đi nét đẹp. Thả chim phóng sinh là một việc thiện và dễ làm, nhưng chính hành động đó đã tiếp tay cho đội quân chuyên đi săn lùng bắt các loại chim vào những dịp lễ, vô tình tiếp tay cho những người đi đánh bắt gây thêm nghiệp sát. Để có được một con đến tay người thả, ắt sẽ có nhiều con bị chết vì mệt mỏi, bệnh tật. Việc phóng sinh không đúng cách còn có thể gây những tác động không tốt đối với môi trường sống trong vùng. Vậy, chúng ta phóng sinh thế nào cho đúng? Ý nghĩa phóng sinh là ở nơi động cơ của phóng sinh mong muốn kéo dài thọ mạng của sinh vật. Phóng sinh được phúc báo Phóng sinh là khi gặp một con vật bị nạn, mình ra tay cứu thoát, hoặc nhìn thấy một hoặc nhiều con vật sắp bị giết, mình bỏ tiền ra mua để cứu sống chúng. Người học Phật tăng trưởng lòng từ bi là điều rất cần thiết nhưng từ bi phải có trí tuệ. Ở góc độ tương đối, khi thực hiện phóng sinh, chúng ta có thể hành theo ý nghĩa sau - Phóng sinh phải phát xuất từ lòng từ bi, không vì ý nghĩa tư lợi như cầu sống thọ, cầu may mắn, giải trừ tật bệnh,…. Vì nếu không như vậy, việc phóng sinh tuy có tốt, nhưng hiệu quả lại rất hạn chế. Tâm từ bi không khởi sinh, còn nói gì đến chuyện nuôi dưỡng! - Phóng sinh bằng cái tâm chứ đừng theo phong trào, làm việc bằng chánh kiến chứ không chạy theo số đông. - Phóng sinh là tự do, không phân lượng lớn nhỏ, ít nhiều, không chọn ngày giờ tốt xấu, không nên chờ dịp này hay dịp khác,…. Vì các loại lươn, cá, ốc, thú rừng,… bị săn bắt phục vụ cho người ăn thịt lúc nào, ngày nào cũng có; mà thời lượng nào thì sự nguy cấp cũng đều như nhau. Nên khi ta phát tâm từ bi thì liền thực hiện - tùy vào khả năng từ một, hai con đến muôn ngàn con cũng phải lập tức cứu thoát chúng – càng nhanh càng tốt, mà chẳng cầu được ai biết đến. - Khi phóng sinh cần thực hiện âm thầm, chọn nơi vắng vẻ càng tốt, vì pháp sự này không nên kích thích lòng tham của những người săn bắt, tạo thêm nghiệp chướng cho họ mà chính chúng ta cũng bị giảm phần công đức. - Phóng sinh là cơ hội để con vật có điều kiện quy y Tam Bảo và sám hối nghiệp chướng, việc làm tốt trong Đạo Phật, thể hiện lòng Đại từ Đại bi nên trong nghi thức phóng sinh có lễ quy y, sám hối cho con vật trước khi phóng sinh. Nhưng chúng ta cũng không nên quá chấp vào hình thức, tiến hành những nghi lễ rườm rà, câu nệ. Khi phóng sinh, thao tác phải nhanh nhẹn, rốt ráo; nghi lễ ngắn gọn nhưng đủ sức tế độ; không nên nặng phần hình thức, tránh cho các sinh vật phải chịu kéo dài nỗi khổ sợ hãi, ngột ngạt, tù túng vì bị giam cầm; có khi chúng phải mất mạng trước khi được ta phóng thích. Tết Nguyên Đán, ngày rằm tháng giêng, rằm tháng bảy là những dịp cho mọi người tổ chức phóng sinh. Đây là việc làm thể hiện cái thiện của người con Phật. Với mong muốn đem lại sự tự do và những điều tốt lành cho các sinh mạng. Từ lòng từ bi đó, việc phóng sinh sẽ mang lại phúc đức to lớn. Nhưng phóng sinh như thế nào là đúng cách? Ở bài viết này, sẽ liệt kê cho bạn những điều cần lưu ý khi phóng sinh cho dịp tết nguyên đán. những điều cần lưu ý khi phóng sinh Những Điều Cần Lưu Ý Khi Phóng SinhThứ Nhất – những điều cần lưu ý khi phóng sinhThứ HaiThứ Ba – những điều cần lưu ý khi phóng sinhThứ TưThứ NămThứ SáuThứ Bảy – những điều cần lưu ý khi phóng sinhThứ TámThứ ChínÝ Nghĩa Của Việc Phóng Sinh – Những Điều Cần Lưu Ý Khi Phóng Sinh Thứ Nhất – những điều cần lưu ý khi phóng sinh Khi phóng sinh cá, nên thả nhẹ nhàng, tránh để cá dập bụng dập phổi chết trương. Lại thêm nghiệp. Không nên cầm cả túi nilon quẳng từ trên cao xuống. Vừa chết cá vừa ảnh hương môi trường. Bi nhiều hơn hỉ. Thứ Hai Khi phóng sinh cua, nên chọn nơi gần bờ kè, bờ đê, bờ sông, để cua còn có chỗ bám. Thứ Ba – những điều cần lưu ý khi phóng sinh Khi phóng sinh ốc, nên ra bãi xa để thả, tránh thả xuống người khác lại vớt lên. Thứ Tư Khi phóng sinh chim, không nên nhốt quá nhiều chim trong một không gian quá chật hẹp. Cũng không nên để thóc, nước tại chuồng- tránh trường hợp chim tranh ăn tranh uống lại quá nhiều, không gian hẹp dẫm đạp lên nhau mà chết. Bi nhiều hơn hỉ. Thứ Năm Khi chuẩn bị đồ phóng sinh, nếu thấy bao con thì mua bấy nhiêu. Tránh việc con đi con ở. Vậy nên việc cân đối tài chính rất quan trọng. Không nên thấy một chậu ốc chỉ mua nửa chậu. Thấy một lồng chim chỉ mua nửa lồng. Bi nhiều hơn hỉ. Thứ Sáu Đạo pháp nhà Phật quan trọng hai chữ tuỳ duyên. Nếu phóng sinh thì cứ hoan hỉ mà tuỳ duyên cứu giúp. Không nên đặt trước đồ phóng sinh, khiến người bán lại đi thu gom, bắt chúng vật. Bi nhiều hơn hỉ. Thứ Bảy – những điều cần lưu ý khi phóng sinh Không phải cứ phóng sinh mới là thiện. Giúp người cũng là thiện. Cứu người cũng là thiện. Không hại người cũng là thiện. Ăn chay cũng là hình thức của việc phóng sinh gián tiếp. Không sát sinh chính là đang phóng sinh vậy. Thứ Tám Phát được cái tâm thiện nguyện, khởi được cái tâm muốn phóng sinh đã là điều tốt rồi. Nếu không biết cách trì tụng kinh, không biết cách hồi hướng công đức thì chỉ cẩn khấn đoạn ngắn sau trước khi phóng sinh. “Chúng con đã tạo bao ác nghiệp Đều vị ba độc tham, sân, si Từ thân, miệng, ý phát sinh ra Tất cả nay cầu xin sám hối”. Sau khi niệm như vậy ba lần, rồi lại vì chúng sinh mà niệm ba lần bài Quy y Tam Bảo. “Con xin quay về nương tựa Phật Con xin quay về nương tựa Pháp Con xin quay về nương tựa Tăng Quay về nương tựa Phật, con không đọa vào Địa ngục Quay về nương tựa Pháp, con không đọa vào Ngạ quỷ Quay về nương tựa Tăng, con không đọa vào Súc sinh Chúng con đã về nương tựa Phật Chúng con đã về nương tựa Pháp Chúng con đã về nương tựa Tăng”. Thứ Chín Phóng sinh chính là hình thức trao trả động vật lại về với thiên nhiên. Chữ phóng ở đây tức là thả, nhưng thực ra khi ta phóng sinh chim cá cũng giống như ta đang hỉ xả buông bỏ hết những sân si muộn phiền trong con người ta vậy. Vậy nên, phóng sinh để cứu vật, cũng chính là ta đang phóng sinh để cứu ta. Để nuôi mầm thiện để triệt mầm ác. Cho trọn đời an yên! Ý Nghĩa Của Việc Phóng Sinh – Những Điều Cần Lưu Ý Khi Phóng Sinh Để việc phóng sinh mang lại kết quả tốt nhất thì chúng ta phải biết được việc phóng sinh có ý nghĩa như thế nào. Phóng sinh vừa cứu vật thoát khỏi ngưỡng cửa của sinh tử, cũng là cứu ta tích được phúc đức. Phóng sinh là một việc làm thể hiện lòng từ bi, mục đích phóng sinh là để đánh thức tâm Bồ đề của chúng sinh trước khi phóng sinh. Phóng sinh giúp cho chúng sinh được tự do, thoát khỏi ngưỡng cửa của sinh tử, cứu giúp muôn loài thoát khỏi khổ ách. Từ nhiều kiếp người, chúng ta đã sát sinh tạo ra nhiều nghiệp nặng. Do đó, việc phóng sinh cứu thả các sinh mạng sẽ mang lại phúc đức to lớn. Người phóng sinh sẽ được tiêu trừ bệnh tật, thoát khỏi các tai nạn. Nhưng hãy nhớ rằng, khi phóng sinh, chúng ta cần thành tâm cầu cho chúng được thoát nạn. Từ bài viết trên đây về những điều cần lưu ý khi phóng sinh, chắc hẵn đã giúp bạn hiểu được một phần về việc phóng sinh, cái nào nên làm cái nào không và ý nghĩa của nó phải không nào. Chúc bạn luôn khỏe mạnh. Nguồn Thiên An Xem thêm Khắc Mệnh Khi Yêu Và Vài Điều Cơ Bản Mà Các Bạn Cần Biết Vận Hạn Năm 2019 Của Tân Mùi 1991 – Một Sự Khởi Đầu Mới Cho Bản Mệnh 1991 Tính Cách Tuổi Giáp Tý 1984 – Chữ Tín Đặt Lên Hàng Đầu Thành Thạo Phép Tam Ban Quái Và Thất Tinh Đả Kiếp Trong 3 Phút Phóng sanh nghĩa là giải phóng các khổ nạn của sự sắp chết đối với tất cả chúng sanh loài nào có sự ham sống sợ chết, loài nào cần có sự sinh tồn. Vì lòng từ bi của Phật, không nỡ nhẫn tâm thấy chết mà không cứu. Về việc phóng sanh như trong “Quy ngươn trực chỉ” giải thích rằng súc sanh có hai giống loại 1. Quyết định sát Như heo, bò, gà, vịt, trâu, dê... Vì loài này duyên do tiền kiếp của chúng quyết định không tin nhân quả, ưa thích làm điều giết hại, không có lòng sám hối, nay phải chịu cái quả "Quyết định sát" không thể nào thoát khỏi cái thân bị bầm chặt, nấu nướng. Dù rằng gặp người có tâm muốn cứu, cứu cũng không được. 2. Bất định sát Như lươn, lịch, chim, cá, sò, ốc, rùa, trạnh... Những loài này duyên do tiền kiếp, tuy có làm các ác nghiệp, nhưng việc làm vì bất đắc dĩ, hoặc khi làm ác xong, nhớ lại biết ăn năn cải hối. Thế nên đời nay phải làm súc sanh để thọ cái quả "Bất định sát", tuy chúng sắp chết nếu gặp được người từ tâm, chúng sẽ được cứu sống lại. Bởi thế, mà thường khi làm việc phóng sanh, người phật tử mua loài Bất định sát mà phóng thích. Việc này cũng tốt. Tuy nhiên, nếu thật sự thể hiện lòng từ bi thì nhìn thấy tất cả sinh vật nào gặp nạn khổ não và chết chóc; người đệ tử Phật đều phải trải lòng từ cứu giúp. Biết rằng như trên đã nói loài Bất định sát thì phóng thích. Còn loài Quyết định sát thì ta tha hồ cắt cổ, mổ bụng, bầm, kho, xào nấu ăn cho thỏa thích, vì chúng ngươi là loài Quyết định sát. Không nên có ý niệm và hành động một cách lầm lẫn như vậy. Như trên đã nói phóng sanh là giải phóng mọi khổ nạn cho chúng sanh. Chúng sanh thì gồm Noãn, Thai, Thấp, Hóa, tất cả đều có một sự sống như nhau, người phật tử phải thương xót và ra tay cứu giúp tất cả. Thường làm lễ phóng sanh, Quý thầy và phật tử Tuyên Pháp ngữ, chú nguyện trước khi phóng sanh, trong Pháp ngữ có câu “nguyện cho chúng ngươi sớm đắc phục nhân thân qui đầu Phật Pháp” nghĩa là sớm trở lại thân người mà qui hướng Phật Pháp. Trong kinh dạy các loài chim, rùa, lươn, cá tội báo rất nặng nề, vĩnh kiếp khó trở lại nhân thân thân người nếu như may mắn gặp được thiện tri thức, mỗi kiếp đươc kết duyên lành, thì họa may 15 tiểu kiếp sau mới làm được thân người. Mỗi tiểu kiếp năm x 15 = năm, nhưng tuổi thọ của lươn, cá, ốc, sò... thấp hơn tuổi thọ loài người. Vậy nghêu, sò, ốc, hến... phải chết đi sống lại bao nhiêu lần so với 15 tiểu kiếp? Quá lâu ! Quá lâu!. Điều thực tế nhất Nên phóng sanh ngay con người, vì họ đã làm được thân người; Nhưng quả báo nghèo cùng, khốn khó của họ do nghiệp tạo tác đời trước. Là phật tử ta nên giải phóng cho họ khỏi cơn hoạn nạn lầm than. Sau đó mình đem giáo pháp cho họ, chắc chắn họ qui hướng về Phật Pháp ngay. Điều sai lầm nhất Là con người với con người lại đành lòng cạo sát xương hom, gọt sát da lưng, phỉnh phờ, lừa bịp, nẻ sát vỏ, để lấy được tiền sau đó đi mua cá, cua, rùa, trạnh phóng sanh, cầu cho chúng nó sớm trở lại nhân thân, để chúng ta tiếp tục cạo gọt tận xương tủy nữa à? Trên đây là quá trình sai lầm, quá bậy bạ! Thiếu thực tế, mà vô tình tỏ ra khoe khoang "Ta là người từ bi biết tu phước phóng sanh" rủ ren chung hùng phóng sanh có phước lắm! Tuổi thọ tăng cao lắm! Suốt đời không quả báo bệnh tật Tóm lại Để thể hiện tâm từ bi của Bồ Tát hạnh, đối với tất cả chúng sanh, nên thương xót và cứu khổ, không riêng về súc vật “Nải chí quyên phi. Xuẩn động vi tế côn trùng....” tất cả đều tôn trọng sự sống. Coi sự sống của chúng sinh là sự sống của chính mình. Đấy chính là tâm quảng đại từ bi của người đệ tử Phật. - Nghi thức phóng sanh hãy xem trong "Bộ Nhật Tụng" mà áp dụng. - Muốn lợi lạc cho chúng sinh và hồi hướng cho chúng nó sớm thành tựu nhân thân qui đầu Phật Pháp, nên tâm niệm câu chú Trí cự lai tâm “ Nẳng mồ A sái tra tất để nẩm, tam ma dã tam mẫu đà cố trí nẩm, Án cấn nghiết nẳng phạ bà, tất đề lỵ đề lỵ hồng”. Thần chú này do Đức Trí Cự Như Lai nói ra, nếu các loài chúng sanh nào nghe qua hoặc nhờ thần lực của người chú nguyên qua cho giống loài đó, thì giống loài đó trễ lắm một tiểu kiếp sẽ đắc phục nhân thân tâm Bồ Tát không thối chuyển. Vậy nên dùng chú này qua tai và mắt quán sát những loài động vật mà gia tâm trì chú để hồi hướng. Như thế, công đức vô lượng vô biên, lợi lạc cho muôn loài, tâm từ bi mỗi lúc mỗi tăng trưởng, hơn cả việc xuất tiền mua súc vật phóng sanh. Thích Nhật Quang Chùa Long Phước, Lấp Vò, Đồng Tháp

vì sao phóng sinh lươn